| |
Nhân Ngày Kỷ Niệm Trưng Nữ Vương
Vài Hàng Tản Mạn Về Ḍng Sông Hát
Mến tặng Thu
Nhi và Thúy Nhi
P.h.Sơn
____________________________________________________
Ban
Biên Tập Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt nhận được bài viết dưới đây của tác giả
Phạm Hy Sơn. Bài viết có nêu lên một nghi vấn lịch sử về
ngày mất của Hai Bà Trưng: Hai Bà tuẫn tiết ngày 6 tháng 2 âm lịch?
(ngày vía Hai Bà ở đền Đồng Nhân gần Hà Nội), hay ngày 6 tháng 3
âm lịch? (theo lễ hội dân gian tại Hát Môn, tỉnh Sơn Tây - chú
dẫn trong “Việt Điện U Linh”).
Kính xin quí vị thức giả cho biết ư kiến.
Ban Biên Tập CLB/HSV
____________________________________________________
Ḍng sông Hát măi măi c̣n đậm nét với lịch sử oai hùng của dân tộc Việt
Nam qua tấm gương oanh liệt của chị em Bà Trưng, hai vị nữ anh hùng đă
giương cao ngọn cờ tự chủ, đánh đuổi ngoại xâm dành lại độc lập cho ṇi
giống sau hơn hai trăm năm bị Bắc phương cai trị.
Tưởng nên nhắc lại, năm 205 trước công nguyên, Triệu Đà là tướng nhà Tần
trấn nhậm ở Nam Hải nước Tàu, thấy trong triều có loạn Trần Thắng, bèn lấy
hai quận Quế Lâm và Nam Hải đổi thành nước Nam Việt tự xưng là Triệu Vũ
Vương đóng đô ở Phiên Ngung. Sau đó Triệu Đà thôn tính những nước khác,
trong đó có Âu-Lạc của An Dương Vương (là nước ta lúc ấy gồm miền bắc cho
tới Hà Tĩnh) và mối t́nh vừa lăng mạn vừa bi đát Mỵ Châu + Trọng Thủy c̣n
được nhắc nhở đến bây giờ.
Đế quốc Nam Việt của họ Triệu tồn tại được 96 năm th́ bị một người con
gái từ lầu xanh ở Hàm Đan tên là Cù Thị lấy Triệu Minh Vương (125 – 113
trước CN) khi Triệu minh Vương chết, Cù Thị mưu tính với t́nh nhân cũ là An
Thiếu Úy dâng đế quốc Nam Việt cho nhà Hán, quan Thái phó Lữ Gia phản đối
truyền hịch đi khắp nơi tố cáo Cù Thị và con là Triệu Ai Vương, đồng thời
cầm quân chống lại nhưng thất bại, Lữ Gia bị giết vào năm 111 trước Công
nguyên. Nhà Hán chiếm được Nam Việt gồm Quảng Đông, Quảng Tây, đảo Hải Nam
và Âu Lạc chia ra quận, huyện cai trị rất hà khắc, nhất là đối với hai quận
Giao Chỉ và Cửu Chân làm dân Việt căm thù tột độ.
Năm 34 sau Công Nguyên, Hán Quang Vũ sai Tô Định sang cai trị Giao Chỉ đă
châm ng̣i vào ḷ thuốc súng làm cho cuộc cách mạng của dân tộc Việt bùng nổ
dưới sự lănh đạo của hai Bà Trưng vào năm 40. Tô Định là kẻ tham lam, hiếu
sát, giết người trung thực, bóc lột dân chúng đến cùng cực : “Rán mỡ dân để
thoả ḷng dục“ như thư của Ông Thi Sách tố cáo Tô Định, v́ thế anh hùng hào
kiệt nổi lên khắp nơi : Ở An Biên, Đông Triều có hai cha con bà Lê Chân ,
Hải Dương có Nam Thành Vương và cháu là bà Thánh Thiên công chúa, Thái B́nh
có Ông Bà Trương Quân, ở Tuy Lai có Ông Nguyễn Nga, Lai Tảo có ba anh em Ông
Cao Doăn . . . .nhưng lực lượng của họ rời rạc yếu ớt không có uy thế, nên
khi hai Bà truyền hịch đi các châu, huyện th́ những vị hào kiệt ấy ồ ạt đem
quân đến phụ trợ quyết một ḷng cùng hai Bà đánh đuổi quân xâm lược và đại
thắng như lịch sử đă ghi.
Khi quân Hán do tướng Mă Viện tái xâm lăng phục thù , chính những vị Hào
Kiệt, Anh Thư này đă sát cánh với hai Bà một sống một chết với quân xâm lược.
Thánh Thiên Công Chúa tử trận trên sông Nguyệt Đức, nay ở xă Ngọc Lâm tỉnh
Bắc Giang c̣n có đền thờ, bà Lê Chân chống cự quyết liệt và chết dưới gươm
giặc thù ở Mai Động.
Vậy hai Bà là người thế nào mà khi hô hào khởi nghiă được toàn dân hưởng
ứng, được các Anh Hùng Hào Kiệt các nơi tụ về?
Ai cũng biết hai Bà là con Quan Lạc Tướng họ Hùng ở Mê Linh, cha mất sớm
mẹ là bà Thiện cháu ngoại Vua Hùng nuôi nấng dạy dỗ. Bà Thiện theo Việt Nam
Danh Nhân Tự Điển của Nguyễn Huyền Anh có tên là Trần Thị Đoan là người có
tài và rất đảm lược. (tên Thiện có thể là tên chồng tức là Quan Lạc Tướng).
Bà nuôi chí lớn giải phóng đất nước, cứu vớt giống ṇi ra khỏi hầm tai vạ
lầm than nên sau khi chồng chết Bà ở vậy cố gắng nuôi dạy hai con gái, đào
luyện cho họ trở thành những người trọng đạo nghiă, yêu nước, có sức mạnh và
tài thao lược.
Cũng chính Bà Thiện là người đă bí mật đứng ra tổ chức cuộc khởi nghiă từ
trong trứng nước, khi lực lượng lớn mạnh Bà giao cho con rể và hai người con
gái quyền lănh đạo, sau này thấy nguy cơ quân Việt bị Quân Mă Viện đông hơn
lấn át, đích thân Bà Thiện (sử Tàu ghi tên Bà là Man Thiện- man là mọi rợ -cũng
như họ gọi Bà Triệu Thị Trinh là Triệu Ẩu - âủ là làm càn) về huyện An Hát (sau
đổi là Phúc Lộc) nay là huyện Phúc Thọ tỉnh Hà-Tây chiêu mộ thêm quân sĩ
chống giặc. Khi bị thua Bà cũng chọn ḍng nước sông Hồng tự trầm vào ngày 10
tháng 11 năm 43, sử ghi mộ và đền thờ Bà Thiện ở làng Nam An sau đổi là Nam
Nguyên bên bờ Hồng Hà nơi hai Bà Trưng tế cờ khởi nghiă trong khu Đông Phụ +Đông
Sàng+Bến Mía phía trên Thị Xă Sơn Tây.
Uy đức của hai Bà Trưng do Bà Mẹ vun đúc chẳng những sáng lạn ở trời Nam
mà c̣n chấn động vùng Đông Nam Á, kẻ thù phương bắc cũng phải nể sợ. Sử sách
Tàu là Hậu HánThư cũng phải công nhận : “Trưng Chắc là người rất hùng dũng”.
Người Tàu vốn trọng con trưởng không nhắc đến bà Trưng Nh́, nhưng chính bà
Nh́ cũng là người nuôi chí lớn rửa hận cho nước, rửa nhục cho giống ṇi. Bà
âm thầm sống thanh bần bằng nghề chăn tằm dệt vải để tập vơ nghệ, nghiền
ngẫm binh thư chờ ngày khởi nghiă cho đến năm 21 tuổi vẫn chưa lập gia đ́nh,
điều đó thực lạ v́ phong tục Việt Nam cho đến những năm gần đây con gái 14,
15 tuổi đă lấy chồng rồi ( bà Nh́ c̣n có tước hiệu là B́nh Khôi Tướng Quân).
Trong hịch khởi nghiă bà Trưng Chắc có bốn lời thề:
- Điều 1 : Khôi phục nghiệp lớn của ḍng Hồng Lạc.
- Điều 2 : Trả thù cho Thi Sách.
- Điều 3 : Giết cho kỳ được Tô Định.
- Điều 4 : Tướng sĩ nam nhân ai lập được công lớn th́ gả Em là Trưng
Nh́ cho.
lời thề số 4 rất ngộ nghĩnh, chứng tỏ sự quyết tâm chống giặc và sự hy
sinh cao độ của hai Bà Trưng là do ḷng yêu nước, yêu giống ṇi Hồng Lạc chứ
không phải v́ t́nh cảm riêng tư như quan niệm của một số nho gia khoa bảng
cổ bị ảnh hưởng của đạo Khổng cho rằng bà Trưng Chắc khởi nghiă để trả thù
chồng, sự sai lầm này chẳng những có từ thời xưa như Đại Việt Sử Kư Toàn Thư,
Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca mà cả những cuốn sử gần đây như Việt Nam Sử Lược cuả
học giả TrầnTrọng Kim, Việt Nam Văn Hóa Sử Cương của học giả Đào Duy Anh
cũng ghi như vậy.
Một điều nữa đáng ghi nhận là bà Trưng Nh́ tức B́nh Khôi Tướng Quân,
không những giỏi vềquân sự mà c̣n có tài ngoại giao đă thuyết phục được
những lănh tụ địa phương như ba anh em ông Cao Doăn, vợ chồng Ông Trương
Quân v.v.. đem nghiă binh dưới quyền về phục vụ dưới ngọn cờ đào. Bà luôn
luôn sát cánh cùng Chị bày mưu hiến kế điều khiển ba quân, lúc vinh quang
hai chị em cùng làm vua, lúc thất thế Bà cùng với Chị quyết đem tấm ḷng son
đền đáp non sông, tuẫn tiết trên ḍng sông Hát không để kẻ thù làm nhục.
Tuy hai Bà làm vua chỉ trong một thời gian ngắn là ba năm nhưng cuộc khởi
nghiă ở Mê Linh như ngọn đuốc sáng chói nêu cao ư chí quật cường, tinh thần
tự chủ, độc lập dân tộc để từ đó con cháu về sau người nọ tiếp người kia
vững tâm, tự tin tiến bước trên con đường quật khởi. Những cuộc khởi nghiă
của Bà Triệu, Lư Nam Đế, Mai Hắc Đế, Bố Cái Đại Vương là những ngọn lửa liên
tiếp bùng cháy lên trong đêm tối của gần một ngàn năm bị đô hộ (43-939). Và
từng bước, từng bước dân tộc chúng ta cố gắng vẫy vùng thoát khỏi nền thống
trị của thực dân phương Bắc với Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán ở sông Bạch
Đằng năm 939 (Đằng giang tự cổ huyết do hồng) xây dựng nền móng vững vàng
cho nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lư, nhà Trần. . . . . về sau.
Công đức lớn lao của Hai Bà đă được người dân An Hát lập đền thờ cung
kính tế lễ, khói hương liên tiếp đă gần hai ngàn năm nay. Mỗi năm đến ngày
06 tháng 3 người dân xă Hát Môn làm lễ kỷ niệm trọng thể với voi, ngựa, cờ
quạt,chiêng trống, quân khí và đoàn nữ binh hộ giá uy nghi như khi hai Bà
xuất quân đánh Tô Định. Theo các cụ xưa truyền lại khi hai Bà bị thua trận ở
căn cứ Cẩm-khê Ba-V́ chạy về cửa sông Hát (là Xă Hát Môn ngày nay) được dân
chúng ra đón và tiếp tế lương thực cho đoàn quân tùy tùng, lúc ấy đang là
mùa gặt lúa chiêm, dân làng đă dùng nếp chiêm làm bánh chôi để các trinh nữ
dâng lên hai Vị Vua của họ. Chẳng bao lâu quân Tàu đuổi tới, hai Bà nhảy
xuống sông tuẫn tiết và các trinh nữ cũng trầm ḿnh chết theo hai Bà. Sau đó
dân làng lập một đền thờ lớn thờ hai Bà,ngoài cổng đền kế bên bờ sông Hát
cũng lập một miễu nhỏ thờ các cô đă dâng bánh chôi, đền và miễu bây giờ vẩn
c̣n và tục lệ tế lễ hai Bà bằng bánh chôi cũng được duy tŕ đến ngày nay.
Trong ngày đại lễ có giết ḅ, gà lợn nhưng bắt buộc phải có tám bát bánh
chôi, tiến tŕnh làm bánh chôi dâng lễ cũng được duy tŕ từ gần hai ngàn năm
không thay đổi (dù ngày nay đă có cối xay bột điện vừa nhanh , vừa
nhuyễn).Trước ngày đại lễ ban tế phải chọn nếp cho đều hạt, nước làm bánh
phải thật trong, thật tinh khiết, nếp được ngâm nước khoảng nửa ngày (06
giờ) đăi sạch để ráo nước rồi cho vào cối đá lớn hai thanh niên cầm mỗi
người một chày gỗ giă cho thật nhuyễn rồi lược đi lược lại thật kỹ mới làm
bánh.
Phiá sau đền ở Hát Môn hiện nay cũng c̣n một g̣ h́nh nón cạnh hồ sen gọi
là G̣ Ngọc Ấn nơi chôn dấu Quốc Ấn của Trưng Nữ Vương mà dân làng t́m
thấy sau khi hai Bà đền nợ nước. Những sự tích ấy (Đền thờ hai Bà, Miễu các
Cô dâng bánh, g̣ Ngọc Ấn) chứng tỏ Hai Vị Trưng Vương đă tuẫn tiết trên sông
Hát . Vào ngày 06 tháng 3 â m lịch (năm 43) và cũng đủ chứng cớ để
phản bác sử sách cuả Tàu và sau này lại được thực dân Pháp (Maspéro) hùa
theo, xuyên tạc rằng hai Vị Nữ Anh Hùng của chúng ta bị bắt, bị giết ở Cẩm
Khê thủ cấp gửi về Lạc Dương kinh đô nhà Hán.
Sách lược của thực dân ở nơi nào cũng là khủng bố, đè nén, hạ nhục làm
cho dân bản xứ mất tinh thần đấu tranh, quật khởi để họ yên trí khai thác,
bóc lột, c̣n một điểm nưă cũng cần được xác định là các sử sách ngày nay đều
ghi ngày tuẫn tiết của hai Bà Trưng theo ngày lễ hội ở làng Đồng Nhân
mồng 6 tháng 2 âm lịch là sai lầm, lư do : Măi đến thế kỷ 18 tức là
1.700 năm sau khi hai Bà mất, không có sách sử nào nhắc đến đền thờ hai Bà ở
làng Đồng Nhân gần Hà Nội. Sách Việt Điện U Linh của Lư Tế Xuyên viết vào
thế kỷ 12 và Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp viết vào thế kỷ 14 cũng
chỉ nhắc đến đền thờ hai Bà ở An Hát (Xă Hát- Môn). Ngay cả cách đây 300 năm
khi Ông Cao Huy Diệu đậu Tiến sĩ (năm 1715) và những nhà khoa bảng khác viết
lời b́nh và chú giải Việt Điện U Linh Tập cũng chỉ nhắc đến đền thờ ở Hát
Môn và ở Hạ Lôi huyện An Lăng do Vua LưAnh Tôn ( 1135 – 1175 ) sắc phong
đền, mà không nhắc đến đền thờ làng Đồng Nhân ở gần Thăng Long nơi Tiến sĩ
họ Cao làm việc.
Đến đầu thế kỷ 20, Cụ Phan Kế Bính soạn Nam Hải Dị Nhân Liệt Truyện (Xb.
Năm1912) đă viết :” Từ lúc Hai Bà ấy xuống sông, rồi hoá ra hai người bằng
đá nổi lênh đênh trên mặt nước trôi đi. Các làng quanh sông thấy vậy tranh
nhau ra khấn để vớt về thờ nhưng chỉ có làng Đồng Nhân huyện Thanh Tŕ (bây
giờ thuộc Tỉnh Hà Đông) vớt được mới lập đền thờ ở làng ấy. Dân xă Hát Môn
thấy sự linh thiêng làm vậy cũng lập đền thờ vọng ở bên sông. Đến đời vua
Anh-Tôn nhà Lư, chỗ băi Đồng Nhân lở gần đến Miếu thờ. Vua sai làng Hưng
Viên ở bên trong đê ra rước tượng hai Bà ấy vào rồi Vua ban tiền bạc cho lập
miếu mà thờ. . . . đến bây giờ vẫn c̣n tục gọi là đền thờ hai Bà” (Nam Hải
Dị Nhân Liệt Truyện trang 6).
Những điều Cụ Phan viết ở trên quá hoang đường, nhất là đối với thời đại
hiện nay v́ xác người chết không thể biến thành tượng đá, rồi tượng đá lại
nổi lênh đênh trôi đi trên mặt nước ! Nếu qủa thật làng Đồng Nhân thấy được
tượng đá trên băi phù sa sông Hồng th́ nên hiểu là hai voi đá (tượng là voi
như ta thường gọi bạch tượng là voi trắng vậy) do nước lũ dâng cao chảy mạnh
tàn phá cổng đền (thường để voi đá hai bên) ở Hát Môn hay Hạ Lôi trôi về khi
nước rút nằm trên băi gần làng Đồng Nhân (như băi Phúc Xá Hà Nội ngày nay).
Hơn nưă nếu đền ở làng Đồng Nhân thiêng liêng như Cụ Phan viết th́ Vua Lư
Anh Tôn đă không phải sai Thiền Sư Tịnh Giới đến tận đền hai Bà ở An Hát
(Hát Môn) cầu mưa, sau khi cầu được mưa chính nhà Vua đă vất vả đế tận Hát
Môn để tế lễ tạ ơn (xin nhắc lại làng Đồng Nhân ở ngay cạnh kinh đô Thăng
Long là Hà Nội bây giờ) ngoài ra hiện nay người ta chỉ nhắc đến đền thờ làng
Đồng Nhân, không ai nói đến đền thờ ở Hưng Viên như Cụ Phan Kế Bính đă viết.
Thiết nghĩ đền thờ hai Bà ở Đồng Nhân chỉ mới được xây cất sau khi Ông
Cao huy Diệu đậu Tiến sĩ, điều đáng tiếc là các nhà viết sử sau này như Phạm
Văn Sơn lại dựa theo ngày lễ hội ở Đồng Nhân mà cho rằng hai Bà hy sinh vào
ngày 06 tháng 2 Âm Lịch, sử gia Trần Trọng Kim cũng lầm lẫn khi viết rằng
Hát Môn và Đồng Nhân cùng cử hành tế lễ hai Bà vào ngày 06 tháng 2 Âm lịch
(Việt Nam Sử Lược, quyển 1 trang 40). Kính xin Qúi vị sử gia và học giả quan
tâm về vấn đề này để chúng ta và muôn đời sau có một ngày chính xác, đúng
với lịch sử để tôn vinh hai vị Nữ Anh Hùng dân tộc.
Trở lại với ḍng sông Hát ở huyện Phúc Thọ tỉnh Sơn Tây cũng như sông
Tô-Lịch ở Hà nội vào năm 1953-1954 khúc sông này ở gần ô Cầu Dền bị lấp chỉ
c̣n là một cái mương rộng khoảng 02 thước trẻ con chơi đùa có thể nhảy qua
hai bờ sông dễ dàng, sông Tô Lịch ngày nay chỉ c̣n là một dấu tích mờ nhạt,
không c̣n ai nhận ra ḍng sông Tô Lịch nữa, nếu không đọc sách t́m hiểu về
khu Thăng Long xưa.
Tài liệu cổ kính nhất tôi đang lưu giữ là Lĩnh Nam Chích Quái viết vào
thời nhà Lư hoặc nhà Trần có nhắc đến sông Hát trong truyện Trinh Linh Nhị
Trưng Phu Nhân : “Người trong châu thương tiếc lập đền thờ ở cửa Hát Giang
mà phụng sự, nhân dân gặp phải tai nạn, hạn hán đến cầu đảo tất hiển linh”.
Địa Dư Chí của Cụ Nguyễn Trăi soạn năm 1438 viết : “Hát giang ở huyện Phúc
Lộc (nay là Phúc Thọ), tương truyền sông Hát phát nguyên từ Giang Hán trên
sông có cây chiên đàn cao hơn 10 trượng lâu năm cây già rễ xuyên thông với
sông Giang Hán, cá anh vũ đi theo đáy về phía Nam, các triều Vua bắt cống cá
ấy để cúng tế”.
Theo Lĩnh Nam Chích Quái, cây chiên đàn này ở huyện Bạch Hạc (nay là Xă
Bạch Hạc-Việt Tŕ) nơi Lô giang phát nguyên từ Giang Hán và Đà giang phát
nguyên từ Lào qua Lai châu, Hoà B́nh đổ nước vào sông Hồng. Cụ Nguyễn Trăi
dùng chữ “Tương Truyền” nghiă là sự việc truyền lại từ lâu rồi.
Theo các nhà điạ chất, khoảng mấy ngàn năm trước nước biển c̣n lên đến Việt
Tŕ, sau nhờ phù sa của ba sông Lô giang, Đà giang và Hồng Hà bồi đắp thành
vùng châu thổ rộng lớn cuả miền Bắc như hiện nay. Vào thời hai Bà Trưng nước
thủy triều c̣n lên tới trung châu, tang hải biến đổi, nhất là lượng nước của
hạ lưu sông Hồng vào mùa thác lũ từ sông Lô, sông Đà đổ vào, mực nước dâng
lên rất nhanh và chảy xiết do đó
sự thay đổi ḷng sông bên lở, bên bồi luôn luôn xẩy ra nên nay ta thấy thị
trấn Bạch Hạc ở bên bắc sông Hồng nơi mà sông Hát xưa phát nguyên th́ cũng
không có ǵ lạ. Đến thời Nguyễn Trăi ḍng sông Hát ở huyện Phúc-Lộc kể trên
có thể chỉ c̣n là con sông nhỏ tiêu nước cho huyện Thạch Thất, Bất Bạt bây
giờ.
Tang-Thương Ngẫu-Lục của Phạm Đ́nh Hổ sưu tầm những sự tích xưa trong
truyện sông Độc chép : “ Sông Độc ở xứ Sơn Nam phát nguyên từ sông Hát là
chi lưu của sông Phú Lương (sông Nhị Hà) chảy đến làng Độc Tín ở huyện Kim
Bảng hợp với sông Lương mà thành ra sông Độc”. Sông Độc tác giả nói đến ở
đây nhận nước từ sông Hồng (Phú Lương hay Nhĩ Hà) qua cửa sông Hát chảy giữa
gianh giới Hà Đông và Sơn Tây về xứ Sơn Nam (Hà Nam, Nam Định bây giờ). Lịch
sử c̣n ghi sau khi nghiă quân Lam Sơn đại thắng quân Minh ở trận Tụy Động,
xác quân tàu làm nghẹt ḍng sông Đáy (khúc Chương Mỹ-Hà Đông), B́nh Định
Vương Lê Lợi bèn sai Tướng Trần Nguyên Hăn đem 100 chiến thuyền từ sông Đáy
qua cửa sông Hát ra sông Nhĩ Hà xuống đóng ở Đông Bộ Đầu bao vây Đông Đô tên
gọi của thành Thăng Long lúc bấy giờ.
Nhưng rồi ḍng sông Hát qua nhiều biến đổi cũng chịu chung số phận với
thượng nguồn sông Đáy, v́ dân số mỗi ngày một gia tăng, nông nghiệp phát
triển, hệ thống đê điều được đắp mới nhiều hơn. Việc đắp đê thời Nhà Trần
c̣n sơ khai ở quanh thành Thăng Long đến thời Hậu Lê được đắp dọc theo bờ
sông Hồng qua Đan Phượng (Thượng Phùng, Hạ Phùng quê nhà thơ Quang Dũng)
chặn sông Đáy, con đê này kéo dài lên qua Thị Xă Sơn Tây đến chân núi Ba-V́
(huyện Bất Bạt quê hương của Thi sĩ Tản Đà) chặn ḍng sông Hát ở Kim Lũ,
Triệu Xuyên v́ vậy sông Hát chỉ c̣n một chiều dài khoảng 5, 6 cây số từ làng
Xuân Vân qua Cựu Lục, Cựu Bài,Phú Châu về Hát Môn đổ ra sông Hồng, sông Hát
và sông Đáy dần dần biến thành ruộng rẫy, phần hạ lưu sông Hát chảy qua đền
thờ hai Bà dần dần bị thu hẹp thành con ng̣i nên ít người biết tới, v́ thế
người th́ nói sông Hát là một khúc sông Nhĩ Hà (sử gia Phạm Văn Sơn), người
th́ nói sông Hát là sông Đáy (Hà văn Tấn chú thích Điạ Dư Chí của Nguyễn
Trăi). Khi người Pháp đô hộ Việt Nam thấy lưu vực sông Hồng quá hẹp v́ bị dê
hai bên bờ vây bọc về mùa lũ hay làm vỡ đê gây thiệt hại mùa màng và sinh
mạng, họ đem kỹ thuật tây phương làm một đập bằng bê tông cốt sắt có 05 cửa
lớn ở Đan Phượng để đóng mở khi cần thiết, đồng thời cho đào vét ḷng sông
Đáy cũ từ Hát Môn đến Ngă Ba Thá. Đến mùa mưa lũ nước sông Hồng dâng cao họ
cho mở các cánh cửa đập Đan-Phượng giải tỏa bớt lượng nước sông Hồng chảy
xuôi về Ba Thá, khúc sông Đáy mới đào vét này c̣n gọi là sông Đào.
Sau năm 1954 nhà cầm quyền miền Bắc cho đắp thêm một khúc đê mới từ đê xă
Cẩm Đ́nh dọc theo bờ sông Hồng nối với đê Xă Hưu Trưng, Vân Môn phiá trên
cầu Chèm bít cửa sông Hát, sông Đáy không cho thông ra sông Hồng nên phần
sông Hát, sông Đáy cũ hơn 50 năm qua bị san lấp làm nương băi, chỉ vài năm
nữa những dấu vết của hai ḍng sông sẽ bị xóa hết. Nhưng dù c̣n hay mất dấu,
ḍng sông Hát đă nhập vào gịng chính sử Việt Nam và măi măi sống trong tâm
hồn người Việt trong và ngoài nước với một niềm kiêu hănh khôn cùng, chính
ḍng sông ấy đă ghi lại một trong những dấu tích oai hùng của dân tộc chống
thực dân phương Bắc dưới sự lănh đạo cũa hai vị liệt nữ Trưng Vương.
Hoa-Kỳ, ngày 06 tháng 3 năm 2004
Phạm Hy Sơn
Tài liệu
tham khăo:
- Lĩnh Nam
Chích Quái,Lê-hữu-Mục dịch, KTrí xb.1960
- Việt Điện
U Linh Tập,Lê-hữu-Mục dịch, K.Trí xb.1961
- Tang
Thương Ngẫu Lục, Đạm Nguyên dịch, Bộ GD xb.1970
- Nam Hải
Dị Nhân , Phan Kế Bính, Mạc Lâm tái bản 1968
- Việt Nam
Danh Nhân TĐiển, N.H.Anh xb.1960
- Việt Nam
Sử Lược, Trần Trọng Kim, Bộ GD xb.1971
- Việt Sử
Tân Biên, Phạm văn Sơn, ĐạI Nam tb. 1990
- Nguyễn
Trăi Toàn Tập, KHXH xb.1976
- VN Văn
Học Sử Yếu, Dương Quảng Hàm, Bộ GD xb.1958
- Xă Hội
Việt Nam, Lương Đức Thiệp, Hoa Tiên xb.1971
|