|
Hằng năm vào ngày mồng bốn tháng giêng âm lịch,
nhân dân làng Keo xă Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái B́nh lại mở hội xuân
ngay ở ngôi chùa mang tên làng.
|
| Gác chuông chùa Keo |
Hơn chín tháng sau, vào các ngày 13, 14, 15 tháng chín âm
lịch, chùa Keo lại mở hội mùa thu. Đây là hội chính, kỷ niệm ngày Thiền sư
Không Lộ (1016-1094), người sáng lập ngôi chùa, qua đời (Ngài qua đời ngày 3
tháng 6 âm lịch). Trong ngày hội, người ta tổ chức lễ rước kiệu, hương án,
long đ́nh, thuyền rồng và tiểu đỉnh. Trên con sông Trà Lĩnh ngang trước chùa
chảy ra sông Hồng, người đi hội đổ về xem cuộc thi bơi trải, thi kèn trống,
thi bơi thuyền và biểu diễn các điệu múa cổ. Trong chùa th́ có cuộc thi diễn
xướng về đề tài lục cúng: hương, đăng, hoa, trà, quả, thực, thật sinh động.
Dù cho cha đánh mẹ treo,
Em không bỏ hội chùa Keo hôm rằm.
Nếu có dịp về thăm chùa Keo, th́ du khách hăy đến vào hội
mùa thu. Từ thành phố Nam Định, qua phà Tân Đệ, rẽ phải, theo đê sông Hồng,
đi khoảng 10 km là đến chùa. Nằm ở chân đê sông Hồng giữa vùng đồng bằng
không một bóng núi non, chùa Keo với gác chuông nhưmột hoa sen vươn lên giữa
biển lúa xanh rờn được vun bón bởi phù sa sông Hồng do nước sông Trà Lĩnh
bồi đắp.
Chùa Keo có tên chữ là Thần Quang Tự, được xây dựng từ
năm 1630 đến năm 1632 theo phong cách kiến trúc thời Lê, nhờ sự vận động của
bà Lại Thị Ngọc, vợ Tuần Thọ Hầu Hoàng Nhân Dũng, và Đông Cung Vương phi
Trịnh Thị Ngọc Thọ.
Nhưng lịch sử của ngôi chùa th́ có bề dày đến hơn chín
thế kỷ. Theo sách Không Lộ Thiền sư kư ngữ lục, năm 1061, Không Lộ dựng chùa
Nghiêm Quang tại làng Giao Thủy (tên nôm là làng Keo) bên hữu ngạn sông Hồng.
Sau khi Thiền sư Không Lộ qua đời, chùa Nghiêm Quang được đổi tên là Thần
Quang Tự. Theo thời gian, nước sông Hồng xói ṃn dần nền chùa và đến năm
1611, một trận lũ lớn đă cuốn trôi cả làng mạc lẫn ngôi chùa. Dân làng Keo
phải bỏ quê cha đất tổ ra đi: một nửa dời về đông nam hữu ngạn sông Hồng, về
sau dựng nên chùa Keo - Hành Thiện (nay thuộc tỉnh Nam Định); một nửa vượt
sông đến định cư ở phía đông bắc tả ngạn sông Hồng, về sau dựng nên chùa Keo
- Thái B́nh này.
Văn bia và địa bạ chùa Keo c̣n ghi lại diện tích toàn khu
kiến trúc chùa rộng đến 58.000 m2. Hiện nay toàn bộ kiến trúc chùa c̣n lại
17 công tŕnh gồm 128 gian xây dựng theo kiểu "Nội công ngoại quốc". Từ cột
cờ bằng gỗ cḥ thẳng tắp cao 25 m ở ngoài cùng, đi qua một sân lát đá, khách
sẽ đến tam quan ngoại, hồ sen, tam quan nội với bộ cánh cửa chạm rồng chầu (thế
kỷ 16). Sau đó là chùa thờ Phật, gồm ba ngôi nhà nối vào nhau. Trong cùng là
ṭa gác chuông, nhà tổ và khu tăng xá.
Gác chuông chùa Keo là một công tŕnh nghệ thuật bằng gỗ
độc đáo, tiêu biểu cho kiến trúc cổ Việt Nam thời hậu Lê. Được dựng trên một
nền gạch xây vuông vắn, gác chuông cao 11,04 m gồm 3 tầng mái, kết cấu bằng
những con sơn chồng lên nhau. Bộ khung gác chuông làm bằng gỗ liên kết với
nhau bằng mộng ngậm, nâng bổng 12 mái ngói với 12 đao loan uốn cong dáng vẻ
thanh thoát, nhẹ nhàng. Tầng một treo khánh đá 1,20 m và chuông đồng cao
1,30 m, đường kính 1m đúc vào thời Lê Hy Tông (1686); hai tầng trên treo
chuông nhỏ cao 0,62m, đường kính 0,69 m đúc vào năm 1796.
|
| Cảnh chùa Keo |
Đứng soi ḿnh xuống hồ nước phẳng lặng giữa một không
gian thoáng đăng, chùa Keo không chỉ lưu giữ nhiều di vật quư giá mà c̣n
chứa đựng những điều huyền bí gắn liền với cuộc đời Thiền sư Không Lộ. Theo
sách Trùng san Thần Quang Tự Phật tổ bản hành thiền uyển ngữ lục tập yếu,
Thiền sư Không Lộ vốn họ Dương, sinh ra trong một gia đ́nh ngư phủ, xuất gia
theo Thiền sư Lôi Hà Trạch.
Tương truyền rằng từ khi đắc đạo, Thiền sư Không Lộ có
khả năng bay trên không, đi trên mặt nước và thuần phục được rắn, hổ. Truyền
thuyết c̣n kể rằng trước khi viên tịch, Ngài hóa thành khúc gỗ trầm hương,
lấy áo đắp lên và khúc gỗ biến thành tượng. Thánh tượng này nay c̣n lưu giữ
trong hậu cung quanh năm khóa kín cửa.
Cứ 12 năm một lần, làng Keo lại cử ra một người hội chủ
và bốn viên chấp sự để làm lễ trang hoàng tượng Thánh. Những người này phải
ăn chay, mặc quần áo mới, họ rước thánh tượng từ cấm cung ra rồi dùng nước
dừa pha tinh bưởi để tắm và tô son lại cho tượng Thánh. Công việc này phải
làm theo một nghi thức được quy định rất nghiêm ngặt, những người chấp sự
phải tuyệt đối giữ kín những ǵ đă thấy trong khi trang hoàng tượng Thánh.
Đến thăm chùa, khách có thể nh́n thấy những đồ thờ quư
giá tương truyền là đồ dùng của Thiền sư Không Lộ như một bộ tràng hạt bằng
ngà, một b́nh vôi to và ba vỏ ốc lóng lánh như dát vàng mà người ta kể lại
rằng chính do Không Lộ nhặt được thuở c̣n làm nghề đánh cá và giữ làm chén
uống nước trong những năm tháng tu hành.
VƠ VĂN TƯỜNG VÀ HUỲNH NHƯ PHƯƠNG |