| |
Đ́nh và lễ hội cúng đ́nh ở nông thôn Khánh Hoà xưa
Nguyễn Man Nhiên (Trích từ: vannghesongcuulong.org)
Trong lịch sử dân tộc,
vùng đất Khánh Ḥa ngày nay chính thức trở thành đất đai Đại Việt vào năm
1653. Cùng với quá tŕnh khai hoang lập làng, quy dân lập ấp, những thiết
chế văn hóa truyền thống của người Việt như đ́nh, chùa cũng được xây dựng
trên vùng đất mới. Trải qua hơn 3 thế kỷ rưỡi với nhiều đổi thay, biến động,
hiện nay Khánh Ḥa c̣n khoảng trên 200 ngôi đ́nh phân bố ở hầu khắp địa bàn
các huyện, thị xă và thành phố.
KIẾN TRÚC NGÔI Đ̀NH
Ngày xưa vật liệu xây dựng
c̣n thô sơ, nghèo nàn, tùy hoàn cảnh địa phương các đ́nh ở Khánh Ḥa thường
được xây cất bằng:
- Ghè ống: một loại gạch
cổ h́nh tṛn như cái ống, lớn cỡ b́nh thuỷ 1 lít, dài khoảng 25 phân, đầu
dưới bịt kín, đầu trên là miệng hơi túm lại một chút, làm bằng đất sét tốt
nung kỹ, chắc hơn gạch thường, chịu đựng trên 100 năm.
- Đá san hô loại miếng to
và mỏng gọi là “san hô bánh tráng”, ghép lại hai ba miếng làm một.
- Đá san hô cục to, đẽo
bớt cạnh cho gọn.
Những đ́nh ở ven biển
thường dùng đá san hô, lấy lên khỏi nước mặn phải phơi nắng mưa ít nhất 6
tháng cho hết chất muối biển rồi mới xây cất, khi đó đá san hô sẽ giữ chất
vôi vữa lâu bền cả trăm năm.
Những h́nh ảnh tượng trưng
cho sự linh thiêng như Tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng), Ông Hổ, Lưỡng long
tranh châu, Lưỡng long chầu nguyệt … được đắp trên các mái đ́nh, trên án thờ,
trước cổng đ́nh, bằng vôi vữa trộn mật đường và nước nhớt của các loại vỏ
cây bời lời, dây tơ hồng hoặc các cây có chất keo, độ bền có khi đến 200 năm.
Nóc đ́nh xưa lợp ngói “âm
dương”, đến giữa thế kỷ XIX lợp “ngói vảy cá”, từ thế kỷ XX lợp “ngói tây”
là ngói làm theo khuôn của Pháp, bằng xi măng và cát, bền chắc hơn ngói ta
bằng đất sét.
Bên trong đ́nh là các hàng
cột to nguyên thân cây cổ thụ. Rừng núi Khánh Ḥa vốn nổi tiếng nhiều gỗ quư,
tuỳ theo mức đóng góp của nhân dân địa phương mà tha hồ lựa chọn.
Về kiến trúc, hầu
hết những ngôi đ́nh trong tỉnh Khánh Ḥa và các tỉnh Nam Trung Bộ đều xây
cất cùng một kiểu giống nhau, gồm có:
- CHÁNH ĐIỆN: Chia làm ba
gian, gian giữa để bàn thờ chính, trên vách có treo tấm biển viết chữ “THẦN”
bằng Hán tự thật lớn. Hai bên để bàn thờ hai vị thần tả - hữu, là hai vị
thần hỗ trợ cho thần chính. Trước bàn thờ có cặp chim lạc đứng trên lưng rùa.
Kế đến là hai giá cắm lô bộ, binh khí (thường là 18 môn binh khí - thập bát
ban vơ nghệ), trống, chiêng và một khoảng trống để Hương chức lạy cúng.
Đồ thờ để trên bàn Thần
gọi là “tam sự” gồm có chính giữa là lư hương, hai bên là hai cây đèn, hoặc
“ngũ sự” thêm hai ống cắm nhang. Tam sự hay ngũ sự bày thẳng một đường phía
ngoài hương án, phía trong có hai độc b́nh. Chính giữa là một cái khay chân
qú, trên để ba cái đài, mỗi đài có chén đựng rượu, cơi trầu và bát nước.
Sau ba ngày cúng tế, Ban Tế tự cất hết những đồ thờ chỉ chừa lại cái lư cắm
nhang, để pḥng kẻ trộm.
- VƠ CA, VƠ QUY: Ngạch cửa
của chánh điện dính liền với một gian rộng bằng ba gian trong, thành một nền
h́nh chữ nhật gọi là vơ ca, gồm một khoảng nền trống để ghế ngồi ngay giữa,
hai bên là sạp gỗ đóng như bậc thang, là nơi dân chúng ngồi xem hát gọi là
vơ quy. Phía trong là sân khấu để đoàn hát bộ tŕnh diễn mỗi khi cúng kiến
hầu vị Thần xem. Đ́nh nào nghèo không có làm sạp gỗ như bậc thang th́ dân
chúng tự động đem ghế đẩu ngồi xem hát.
Cạnh đ́nh có căn nhà bếp,
phía trước là pḥng ăn, gọi là nhà
tổ. Trong ngày cúng đ́nh đồng bào đến nấu nướng cho hương chức và
nhân dân ăn. Trước cửa vào đ́nh có cổng tam quan với tấm b́nh phong vẽ hoặc
chạm h́nh cọp, gọi kính cẩn là Ông Hổ. Sau cổng tam quan có nền gạch cao,
gọi là nền Xă tắc, giữa có bia thờ Thần Nông, bên trái có miếu thờ Thổ Thần
và miếu thờ Sơn Quân, bên mặt có miếu thờ Ngũ Hành và miếu thờ Long Thần.
HƯỚNG CỦA Đ̀NH VÀ CÁCH BÀI
TRÍ
Trước khi cất đ́nh người
ta phải nhờ một thầy địa lư hoặc một người am tường về thuật phong thuỷ định
hướng ngôi đ́nh. Ngày xưa tổ tiên ta chịu ảnh hưởng của Trung Quốc, thường
làm theo sách vở của Tàu. Nhà vua dựng đền đài, cung điện, tôn miếu, đền tế
Nam Giao đều quay mặt về hướng Nam, có ư mong được sự sáng suốt như lửa đỏ
v́ hướng Nam thuộc về hành Hoả (lửa). Đ́nh ở Khánh Ḥa cũng xây cất không
ngoài định lệ trên. Thường thường đ́nh nào cũng quay mặt về hướng Nam với hy
vọng dân làng được sống yên ổn, làm ăn khá giả.
Đồ trang hoàng trong đ́nh
theo nghi lễ thông thường gồm có:
- Tàng, lọng, cừ, quạt,
vơng, ngựa, chiêng, trống, kiểng, cổ lịnh, thái b́nh (cái mơ bằng cây).
- Bát bửu và Lô bộ để trên
giá gần bàn thờ Thần, dựng hai bên để ngăn bàn thờ ở gian giữa.
- BÁT BỬU: Xưa nay
Bát bửu hay Lô bộ không được ấn định thước tấc hoặc bao nhiêu món, như Bát
bửu có nơi 8 món, có nơi 10 hoặc 12. Một tư liệu ghi Bát bửu gồm có: 1. Pho
sách, 2. Cuốn thơ, 3. Lẵng hoa, 4. Bầu rượu, 5. Bàn tỳ, 6. Cái quạt, 7. Phất
trần, 8. Gậy như ư. Một tư liệu khác ghi Bát bửu là 8 món của 8 vị Tiên cầm
ở tay: 1. Cái quạt của Chung Ly Quyền, 2. Đôi xến của Lữ Đồng Tân, 3. Bầu
rượu của Lư Thiết Quài, 4. Thanh gươm của Tào Quốc Cựu, 5. Lẵng hoa của Lâm
Thái Hoà, 6. Gậy của Trương Quả Lăo, 7. Ống tiêu của Hàng Tương Tử, 8. Hoa
sen của Hà Tiên Cô.
- LÔ BỘ: Một tư liệu ghi
Lô bộ là 8 món: 1. Quả đấm, 2. Quạt, 3. Bút, 4. Bài, 5. Búa, 6. Kích, 7. Đao,
8. Gậy. Một tư liệu khác ghi Lô bộ là 18 món vơ khí thời xưa (thập bát ban
vơ nghệ): 1. Chùy, 2. Trái đấm, 3. Búa, 4. Kích, 5. Kiếm, 6. Song kiếm, 7.
Trường thương, 8. Đại Đao, 9. Đoản đao, 10. Siêu đao, 11. Roi, 12. Mác, 13.
Khiên, 14. Xà mâu, 15. Giáo, 16. Cung tên, 17. Ŕu, 18. Côn. Cũng có nơi ghi
14 hay 16 món kể cả hai bên, có khi trên giá Lô bộ có cả cờ và lọng. Sắm Lô
bộ tại đ́nh cho đúng cần phân biệt đ́nh Thần của quan văn, quan vơ, hoặc cả
quan văn lẫn vơ.
- LỌNG: Lọng ở đ́nh
luôn luôn là lọng màu vàng, khác nhau theo cấp bậc của vị Thần:
- Thượng đẳng Thần: 4 lọng
vàng, mỗi lọng có 20 tụi tḥng xuống.
- Trung đẳng Thần: 4 lọng
vàng, mỗi lọng có 16 tụi tḥng xuống.
Chỉ riêng miếu thờ Phước
Thần: 4 lọng xanh, mỗi lọng có 12 tụi tḥng xuống. Mỗi ngôi đ́nh có một là
cờ lớn là “Cờ lịnh”, thượng lên khi đ́nh có đại lễ hoặc ngày Tết Nguyên Đán.
Trong đ́nh có cờ ngũ hành hay năm lá cờ h́nh vuông có 5 màu: xanh thuộc mộc,
đỏ thuộc hỏa, trắng thuộc kim, tím thuộc thủy, vàng thuộc thổ.
Đ̀NH VÀ MIẾU
Miếu nhỏ hơn đ́nh rất
nhiều, diện tích chỉ khoảng hơn 1 đến 2 mét vuông, vừa đủ để bàn thờ và một
khoảng trống để phẩm vật cúng kiến. Trong miếu không có tượng Thần Thánh,
chỉ có chữ nho trên bức hoành ghi tên vị Thần như bà Cửu Thiên, Bà Chúa xứ,
Sơn Thần, Cô Hiên v v… và lư hương, chân nến, hoa treo, đèn kết. Trên nóc
miếu người ta gắn h́nh rồng, cá hoá long, hoặc để trơn như mái nhà.
Cũng có nơi do địa thế
thuận tiện, người ta xây cất miếu khá to như Miếu Bà ở Đèo Bánh Ít (thuộc
thôn Hà Thanh, xă Ninh Đa, Ninh Hoà). Miếu Vạn An ở Cây Dầu Đôi (nay thuộc
xă Diên An huyện Diên Khánh) ngày trước là cái miếu nhỏ thờ Thần (gọi là
miếu Ông Cây Dầu), nhưng từ khi có sự kiện B́nh Tây đại tướng Trịnh Phong -
lănh tụ phong trào yêu nước chống Pháp tại Khánh Ḥa bị bắt tại mặt trận Ḥn
Khói rồi bị giặc Pháp chém và treo thủ cấp tại cây dúi phía trong miếu nên
sau đó dân làng Phú Ân thờ ông tại miếu này, từ đó gọi là miếu Trịnh Phong.
LỄ HỘI CÚNG Đ̀NH
Hầu hết các đ́nh ở Khánh
Ḥa đều theo lệ cúng mỗi năm hai lần (xuân thu nhị kỳ), nhưng cũng có một số
đ́nh chỉ cúng mỗi năm một lần như đ́nh Cửa Bé (phường Vĩnh Trường, TP. Nha
Trang) cúng một lần vào tháng 10 âm lịch là tháng biển động, ngư dân nghỉ
hành nghề. Ngày cúng đ́nh mỗi nơi mỗi khác, tùy theo tập quán địa phương.
Cúng xuân vào tháng 3 hoặc tháng 4 âm lịch là cúng kỳ an tức cầu Thần hộ tŕ
cho quốc thái dân an, cúng thu vào tháng 9 hoặc tháng 10 âm lịch là Thu tế,
lễ tạ ơn Thần. Tùy theo điều kiện kinh tế và sinh hoạt, mỗi nơi chọn lễ cúng
nào là lễ chính (chẳng hạn ở đ́nh Ngọc Hội, đ́nh Phú Vinh cúng xuân là lễ
chính, c̣n ở đ́nh Phương Sài cúng thu là lễ chính).
Những vị thần được thờ tại
đ́nh gồm: Thành Hoàng Bổn Cảnh tức vị Thần phù hộ; các vị Thần ở địa phương
được triều đ́nh sắc phong; các vị Tiền Hiền, Hậu Hiền có công lập ấp, lập
làng giúp đỡ nhân dân; các vị quan có công với triều đ́nh khi chết được sắc
phong. Đ́nh đóng cửa quanh năm, hàng ngày có ông Từ lo việc nhang khói và
quét dọn, chỉ mở cửa trong mấy ngày cúng xuân, cúng thu. Thường thường lễ
cúng gồm có: lễ rước sắc; lễ cúng Thần; lễ cúng Tiền hiền - Hậu hiền; lễ
cúng Bà Thiên Y Thánh mẫu (làng thôn nào có miếu Bà th́ việc thờ cúng Bà
được tổ chức tại miếu); lễ dâng hoa; lễ tụng kinh cầu an; lễ tống na.
TƯ LỢI CỦA Đ̀NH VÀ QUỸ TẾ
TỰ
Trước năm 1975 đ́nh ở vùng
nông thôn được làng cấp ruộng đất gọi là công điền công thổ từ 5 đến 10 mẫu
ruộng hạng nhất tuỳ theo sổ công điền của làng. Ruộng đất này khỏi đóng thuế,
là tư lợi của đ́nh để lo việc tế tự hàng năm và tu bổ đ́nh. Việc sử dụng tư
lợi của đ́nh được giao cho Ban Tế tự quản lư:
- Trích ra 1 hay 2 sào cấp
cho ông Thủ sắc là Hương chức được cử giữ sắc phong của triều đ́nh tại nhà.
- Trích ra 1 sào cho ông
Từ, người coi việc nhang khói hàng ngày và quét dọn đ́nh, gọi là ruộng hương
đăng.
- Ruộng đất c̣n lại th́
cho thuê hoặc đấu giá.
Những đ́nh ở Ninh Hoà, Vạn
Ninh có ruộng th́ cho các chủ nuôi vịt bầy đấu giá để họ thả vịt ăn lúa rụng
sau khi gặt, gọi là đấu giá “lạc túc”, lấy tiền sung vào các quỹ tế tự, tu
bổ đ́nh. Đ́nh nào quỹ ít, không đủ cho mỗi lần cúng hoặc tu bổ th́ dân chúng
đóng góp thêm.
Những đ́nh ở thành phố Nha
Trang và các làng ven biển v́ không có ruộng đất làm tư lợi đều dựa vào sự
đóng góp của nhân dân địa phương. Dân gian có câu “cúng Thần, Thần đăi” nên
dù ít nhiều tùy hảo tâm, không hạn chế, khi kêu gọi đóng góp để cúng lễ th́
không ai keo kiệt, từ chối, nhất là các chủ nậu, chủ chành, chủ vựa, các
tiệm buôn lớn, các chủ nghề lớn như lưới đăng, lưới cản, giă cào… v́ đây là
dịp để trả lễ Thánh Thần và để chứng tỏ sự hào phóng.
Từ 1985 đến nay quỹ tế tự
của nhiều đ́nh ở ven biển như đ́nh Cù Lao, đ́nh Cửa Bé, đ́nh Vĩnh Nguyên (Nha
Trang), các đ́nh ở Ḥn Khói, Ninh Hoà, Vạn Ninh, Cam Ranh được dồi dào hơn
nhờ sự ủng hộ của bà con Việt kiều mỗi lần về thăm quê cũ.
BAN TẾ TỰ
Trước đây, mỗi đ́nh có một
Ban Tế tự, phần đông là các ông Hương chức trong làng, mỗi người giữ một
phận sự cùng chung lo chăm sóc, tu bổ, cúng tế và mọi việc liên quan đến
ngôi đ́nh. Thành phần Ban Tế tự do dân làng bầu ra, thường gồm 9 người :
- Chánh tế hay Chánh bái:
1 ông
- Phụ tế hay Bồi bái: 2
ông
- Đông hiến hay Tả Ban: 1
ông
- Tây hiến hay Hữu Ban: 1
ông
- Kích hát hay người đánh
mơ: 1 ông
- Chinh hay người đánh
chiêng: 1 ông
- Cổ hay người đánh trống:
1 ông
- Đao phủ thủ hay người
thọc huyết heo: 1 ông
Ông Chánh tế thường là ông
Thủ sắc trong làng hoặc ông Lư trưởng. Trường hợp hai ông này không thể đảm
nhận được (v́ nhà đang có tang hoặc vợ có bầu) th́ cử một ông khác phải là
người có uy tín, đạo đức trong làng.
Khi chuẩn bị tế lễ, các
ông trong Ban Tế tự tập hợp ra mắt trước án Thần, ai vào vị trí nấy, 2 ông
phụ tế đứng hai bên trái phải của Chánh tế, 2 ông Đông hiến, Tây hiến đứng
bên bàn thờ phía đông và tây theo hướng của đ́nh. Đến giờ hành lễ, Ban Tế tự
làm theo lời xướng của Lễ sanh (học tṛ lễ) hoặc ông Thầy lễ.
Ngày xưa Ban Trị sự của
làng ngoài ông Lư Trưởng c̣n có các ông lo phụ việc cụ thể là Hương kiểm,
Hương mục, Hương bộ, Hương việc, Hương bản (c̣n gọi là ông Thủ bổn tức thủ
quỹ của làng), Hương nông, Hương lâm và Hương đàng.
Khi có tu bổ đ́nh th́ Ban
Trị sự bầu ra Ban Tu bổ, ngoài số Hương lư c̣n có hào lăo tham gia. Tài
chánh th́ có ruộng quan trích cho làng; riêng các đ́nh ở Ninh Ḥa, Vạn Ninh
có thêm tiền đấu giá “Lạc túc” và tiền ủng hộ của các chủ nuôi vịt bầy.
CHƯƠNG TR̀NH CÚNG TẾ
Hằng năm đến ngày vía, Ban
Tế tự tổ chức lễ cúng Thần suốt ba ngày. Cứ ba năm đáo lệ có thuê đoàn hát
bộ tŕnh diễn hầu Thần xem và đồng bào thưởng thức. Trước khi cúng Thần có
lệ cúng “Tiên sư” là ông Tổ nghề tại nhà việc của làng. Lễ cúng vào sáng
ngày thứ nhất, lễ vật gồm có một con heo gọi là “heo cơm”, một số mâm xôi,
mâm bánh do Ban Tế tự lo liệu hoặc do dân làng mang đến theo lời nguyện vái.
Con heo của đồng bào cúng trả lễ Tiên sư gọi trại đi là “con gỏi”, phần
nhiều là heo nhỏ. Kế đó là cuộc thỉnh sắc Thần về đ́nh, khởi đầu từ nhà việc
của làng đi tới nhà ông Thủ sắc thỉnh hộp đựng sắc vào đ́nh. Sau 3 ngày cúng
xong lại hoàn sắc về nhà ông Thủ sắc với lễ nghi như lúc thỉnh.
Thành phần cuộc thỉnh gồm
có:
- Một người cầm ống loa
kêu gọi dân làng tránh đường cho vị Thần đi.
- Một người đánh trống do
hai người khiêng.
- Một người đánh chiêng
cũng do hai người khiêng.
Tiếp đến là các đoàn thể,
học sinh, đoàn múa lân và đông đảo dân làng. Một bàn hương án dọn hương đăng
trà quả kèm hai cây lọng vàng do 4 người mặc áo đỏ, đội nón chóp khiêng đi
giữa hai hàng Lô bộ, Bát bửu. Có làng không dọn hương án th́ khiêng hai cái
long đ́nh, một cái nhỏ để áo măo vị Thần, một cái lớn để sắc Thần. Có làng
chỉ khiêng một cái long đ́nh. Hương chức đi theo phải mặc áo thụng xanh hoặc
áo dài đen, đội khăn tử tế. Tại nhà ông Thủ sắc cũng thiết sẵn lễ khi đoàn
thỉnh tới, xong chính tay ông Thủ sắc kính cẩn bưng hộp đựng sắc để trên
long đ́nh. Bấy giờ đoàn hát bộ phái hai cô đào hầu hai bên long đ́nh gọi là
“Đào thài”.
Sắc Thần được viết trên
miếng lụa dệt h́nh rồng bay trên mây mà mỗi Triều vua vẽ kiểu khác nhau, màu
sắc đậm lợt khác nhau. Chữ viết trên sắc do người có hoa tay. Bề dài của sắc
khoảng 1m2, bề ngang 0m60. Miếng lụa bồi trên giấy không dày lắm để dễ cuốn
tṛn đút trong ống tre hoặc ống thiếc, đựng trong hộp gỗ có khoá đề pḥng
tráo sắc khác, đặt trên bàn thờ tại đ́nh, treo trên nóc đ́nh hoặc để tại nhà
ông thủ sắc (nhờ có người giữ riêng như vậy nên nhiều đ́nh bị giặc Pháp
thiêu hủy trong những năm kháng chiến mà bằng sắc vẫn c̣n).
Làng nào có hậu duệ ông
Tiền hiền thờ ông tại nhà th́ đoàn thỉnh sắc ghé nhà rước bài vị về đ́nh
luôn. Thân nhân vị Tiền hiền làm sẵn cái kiệu khiêng theo. Làng nào có miễu
thờ Tiền Hiền th́ thiết lễ cúng tại miễu. Dọc hai bên đường dân làng để bàn
thờ, hương án bái vọng khi kiệu Thần đi qua.
Khi vào đ́nh, ông Trưởng
ban Tế tự bưng hộp sắc để trên bàn thờ, ông Hương lễ đọc bài văn thỉnh vị
Thần an vị. Trong lúc đoàn rước sắc khởi hành th́ ở tại đ́nh làm lễ “Khai
môn thượng kỳ” nghĩa là mở cửa đ́nh, treo cờ lịnh trước đ́nh. Cửa đ́nh
thường đóng suốt năm. Mở cửa rồi, Ban Tế tự thiết lễ tế Thần Nông trên nền
xă tắc trước đ́nh. Lễ vật cúng Thần Nông là con heo trắng, để xẻ thịt làm
thức ăn buổi trưa, c̣n phần xôi bánh th́ phân phát cho đám trẻ mục đồng.
Sau khi thỉnh Thần an vị,
Ban Tế tự bưng hộp sắc ra bàn giữa chánh điện mở ra cho hương chức trong hội
tề xem - gọi là “tŕnh sắc” hay “khán sắc”, mục đích để chứng minh sắc c̣n
nguyên vẹn không bị mối ăn, không bị tráo. Khán xong sắc được đưa lên bàn
thờ, đoạn Ban Tế tự hành lễ đọc văn tế Thần. Buổi chiều cử hành lễ Túc yết (mổ
heo). Nửa đêm, xây chầu hát bộ một lớp sơ cổ. Ngày thứ nh́, cử hành lễ “Đàn
cả” vào buổi sáng, buổi chiều hát bộ. Ngày thứ ba, cúng Tiền Hiền và cầu
siêu các chiến sĩ trận vong và hội viên quá cố; buổi chiều hát bộ và hồi
chầu, bế mạc.
Đ́nh nào cúng trong một
ngày th́ 7 giờ sáng rước sắc, 10 giờ làm lễ Túc yết và Đàn cả, 13 giờ cúng
Tiền hiền. Đ́nh Cửa Bé (Vĩnh Trường) tổ chức lễ cúng trong một ngày gồm có:
thỉnh sắc; cúng cha chú (tức Tiền hiền); cúng Thần; cúng tất và tống na (tống
quái). Ban Tế tự làm chiếc ghe nhỏ bằng bẹ chuối, để ít thực phẩm trong ghe
và thả ra biển.
Ngày xưa sắc Thần để trong
đ́nh, đến chiều 30 tháng Chạp Ban Tế tự thỉnh sắc từ đ́nh về nhà việc của
làng gọi là để vị Thần ăn Tết. Suốt bảy ngày từ mùng 1 đến mùng 7 Hương chức
không làm việc. Đến chiều mùng 7 cúng Khai sơn rồi Ban Tế tự thỉnh sắc về
đ́nh. Từ lúc sắc Thần để trong nhà ông Thủ sắc th́ làng bỏ tục lệ trên.
NGHI THỨC HÀNH LỄ
Đến giờ hành lễ, các ông
trong Ban Tế tự mặc áo thụng xanh và áo dài đen cùng đoàn lễ sanh sắp hàng
đi lên chánh điện từ hướng đông, khi xuống đi hướng tây). Đ́nh nào không
dùng học tṛ lễ th́ có ông Hương lễ điều hành nghi thức. Mỗi vị đứng theo vị
trí của ḿnh, chức lớn đứng trước bàn Thần, chức nhỏ đứng phía sau lưng và
hai bên tả hữu. Một lễ sanh (hoặc ông Hương lễ) đứng cạnh bàn thờ để xuống
điều khiển cuộc lễ, c̣n lại th́ đứng hai bên dọc theo bàn thờ Thần.
Lễ túc yết có 4 đến 8
người phụ giúp. Trong lễ túc yết, lễ sanh xướng: “Củ soát tế vật”, th́ một
vị trong Ban Tế tự đến xem xét tế vật có đủ món không rồi lấy dĩa đựng lông
và huyết heo đem ra sân đ́nh chôn. Có làng không chôn th́ lễ sanh xướng câu:
“Ế mao huyết”, người phụ trách đem dĩa lông và huyết heo để kế bên con vật
hy sinh trước bàn Thần. Đoạn Ban Tế tự theo lời xướng đi rửa tay, lau tay.
Một vị bưng hộp hương, một vị bưng ḷ hương trao cho Tế quan làm lễ thượng
hương. Kế tiếp Tế quan lại chỗ để cái mơ dỡ tấm khăn đỏ trải phủ thân mơ
đánh 3 hồi dài. Hai vị bồi tế đánh 3 hồi dài chiêng trống. Nhạc lễ trổi lên,
Ban Tế tự trở về vị trí lạy Thần 4 lạy. Lễ sanh dâng 3 tuần rượu, 3 tuần trà.
Vị Hương lễ đọc bài văn tế. Lễ tất.
LỄ XÂY CHẦU
Theo lệ xưa, trước khi
đoàn hát bộ tŕnh diễn đêm đầu, Ban Tế tự tổ chức “Lễ xây chầu” c̣n gọi là
“Khai tràng”. Người phụ trách xây chầu gọi là Chấp sự, phải là người đứng
đắn, cao tuổi, có gia đ́nh đông đảo, có uy tín, được dân làng trọng vọng.
Ông Chấp sự phải biết mỗi năm tùy hướng “Đại lợi” mà xoay cái trống cho đúng
hướng. Mặt trống chầu gọi là Thái cực. Coi hướng xong phải lấy địa bàn phân
kim ngay ngắn, lấy phấn làm dấu dưới chân trống cho khỏi xê dịch, trật chỗ.
Mặt trống phải đậy khăn đỏ không cho ai rờ mó. Trên giá trống có cây đèn dầu,
phải giữ cháy luôn luôn và coi chừng mèo chuột chạy đổ ngă.
Đến giờ hành lễ, Ông Chấp
sự đến chỗ để trống, ḷng thật b́nh tĩnh, trong tâm cầu nguyện Thần Thánh hộ
tŕ. Ông đứng nghiêm ngay thẳng, oai nghi như cây trụ đồng, chân theo chữ “đinh”,
mắt ngó thẳng hướng Đại lợi. Khi lễ sanh xướng: “Chấp sự viên hành sự” th́
ông Chấp sự ngó vào mặt trống, tay dỡ khăn đỏ, tay cầm dùi đánh ba hồi dài.
Đến hồi chót ông đánh tiếp 3 chập, mỗi chập 3 tiếng, cộng lại là 9 tiếng,
theo câu “Tam như tam, thiên hạ thái b́nh” là 3 hồi dài vừa dứt, bây giờ th́
“Cửu như cửu, tŕnh tường tứ phước”. Tục lệ này c̣n gọi là ba hồi chín chập.
Sau đó tuồng hát bắt đầu,
ông Chấp sự muốn ngồi đánh trống thưởng phạt hoặc nhường cho người khác cũng
được, nhưng phải lựa người đàng hoàng. Lúc hồi chầu bế mạc th́ đánh một hồi
trơn mà thôi. Nếu phần hát chầu chấm dứt mà có người mướn đoàn hát tŕnh
diễn thêm để cúng Thần trả lễ theo lời nguyện vái th́ sau hồi trống có thêm
3 tiếng cho một tuồng, 3 tiếng nữa cho tuồng thứ hai. Đánh như vậy có nghĩa
là tuy đă hồi chầu nhưng c̣n có hát thêm. Ban Tế tự của đ́nh trọn quyền chọn
tuồng hát nhưng thường cũng không ngoài những tuồng dưới đây:
- Sơ cổ, buổi thứ nhất:
“Trương Phi thủ cổ thành” hoặc “Huê Dung đạo”
- Kế tiếp: “Thần nữ dâng
ngũ linh kỳ”; “Chung Vô Diệm”; “Xử án Bàng Quư Phi”; “Lưu Bị cầu hôn giang
tả”; “Bá Lư Hề”…
THƯỞNG TIỀN
Người thưởng tiền là ông
cầm chầu. Ông phải rành tuồng tích, hát đúng hoặc hát nhận lớp (bỏ lớp). Khi
diễn viên hát nhận lớp hoặc hát dở quá, ông gơ vành trống mấy cái để nhắc
nhở hay cảnh cáo không nên qua mặt. Lúc hát hay, đúng tuồng tích và nhất là
những “pha gay cấn” đào kép diễn tả đúng điệu, tiếng trống đánh một chập 3
tiếng, hai chập 6 tiếng hoặc dồn dập nhiều hơn, tiền thưởng mỗi lần nhiều
hay ít theo tiếng trống. Thấy việc ném bạc giấy lên sân khấu mỗi lần thưởng
có vẻ bất tiện nên về sau người ta dùng thẻ tre, quy định mỗi thẻ là bao
nhiêu tiền, đến khi buổi hát tạm ngưng th́ có người mang số thẻ đến cho ông
cầm chầu thanh toán.
Ba năm mới có một lần hát
bộ cúng đ́nh nên đây là dịp để các ông cầm chầu trổ tài hiểu biết tuồng tích
và phô tiếng trống sành điệu. Ông nào cũng tỏ ra hào phóng, đánh trống ầm ầm,
ném tiền (hay thẻ tre) lên sân khấu không biết mỏi tay khiến thằng bé con
của bạn hát cứ lom khom chạy lượm măi, tạo nên cảnh vui nhộn cho buổi hát
giữa sự ồn ào của đám đông khán giả b́nh dân.
LỄ VẬT CÚNG THẦN
Người ta thường dùng vật
hi sinh để cúng Thần (theo Từ nguyên, Hi là con vật toàn một màu sắc hoặc
đen, hoặc trắng; Sinh là súc vật làm thịt rồi). Vật hi sinh là heo gọi là
“cang lạp”, dê gọi là “nhu mao”, xôi gọi là “tư thành”. Có làng cúng thêm ḅ
hoặc trâu, gọi là “tam sanh”. Ngoài món thịt , người ta cho món xôi là vai
chánh trong buổi lễ, kế là bánh trái.
Đây là dịp cho bà con dân
làng hănh diện được có phần một mâm xôi. Từ ông Tổng, ông Hội đồng, đến ông
Lư trưởng, Hương thân, Hương hào, Hương bộ … mỗi vị cúng một hoặc hai mâm.
Mỗi nhà tự chọn nếp thật tốt, lo nấu xôi thật ngon, khéo. Xôi xây tṛn trên
mâm thau, vành mâm có dán mảnh giấy ghi tên người cúng. Khi cúng xong, Ban
Tế tự cắt làm hai, một nửa để đăi tại đ́nh, một nửa cho người cúng đem về
nhà gọi là “lộc của Thần”. Khi đưa mâm xôi đến đ́nh, người chủ phải đội trên
đầu hoặc bưng trên vai, không được phép bưng ngang hông dưới nách; nếu để
mâm xôi vào gióng phải hai người khiêng chứ không được gánh hai đầu như gánh
nước hay đi chợ. Khi cúng rồi đem một nửa mâm xôi về nhà th́ tự bưng gánh
thế nào cũng được.
Những đ́nh quá nghèo th́
không có việc cúng mâm xôi như trên. Nhiều đ́nh ở Ninh Hoà, Vạn Ninh khi
cúng tế th́ Ban Tế tự lo việc nấu nướng tại nhà Tổ để đăi khách. Khi chấm
dứt cuộc cúng tế, Ban Tế tự chia phần thịt heo biếu Hương chức gọi là “Kiến”.
Đầu heo và cái nọng kiến cho hai ông cao cấp nhất, c̣n các vị khác th́ mỗi
vị một miếng thịt. Có làng nhân dân cúng ít xôi không đủ đăi đằng th́ Ban Tế
tự không hoàn lại nửa mâm như cựu lệ mà biếu người cúng một miếng thịt.
Bánh cúng có bánh thuẫn,
bánh bông lan, bánh in, bánh cốm, bánh ít… Trái cây thường là cam, chuối,
xoài, thanh long, măng cầu, ổi xá lị, vú sữa, bưởi… mùa nào thức ấy, không
bắt buộc.
Nguyễn Man Nhiên
|