| |
Đạo
“Đức Chúa Trời” -------- Vai tṛ của ngôn
ngữ trong tiến tŕnh hội nhập văn hóa
LM Nguyễn Đoàn Tân, OFM
_______________________________________________________________________________________
- Giới
Thiệu: Ngôn Ngữ Tôn Giáo
- I. Chữ
“Trời” Trong Tiếng Việt
- - “Trời”
trong ca dao tục ngữ
- - “Trời”
trong các chuyện cổ tích
- - “Trời”
trong thư mục lưu kư
- - “Trời”
trong văn học chữ nôm
- II. Chữ
“Deus” Trong Triết Thần Tây Phương
- - “Deus”
qua ngôn ngữ “Bản thể”
- - “Deus”
qua ngôn ngữ “Nguyên Nhân”
- - “Deus”
qua ngôn ngữ “Nền Tảng”
- - “Deus”
qua ngôn ngữ “Giới Hạn”
- III. So
Sánh Hai Lối Dùng Ngôn Ngữ Tôn Giáo
- - Tác
năng của chữ “Trời”
- - Tác
năng của chữ “Deus”
- Kết luận:
Thử Thách Hiện Tại
-
________________________________________________________________________________________
- Giới Thiệu:
Ngôn Ngữ Tôn Giáo
-
- Khi nói
về Thiên Chúa, chúng ta không thể xác định hoặc bác bỏ sự hiện hữu của Người
nếu chỉ dùng các biện chứng triết lư hay thần học. (1) V́ lẽ mọi ngôn ngữ
dùng để cảm nghiệm và diễn đạt đức tin đều nằm trong phạm vi “tôn giáo,” với
những giới hạn và qui luật khác biệt với ngôn ngữ dùng hằng ngày hoặc trong
các ngành khoa học khác. Đối với người tin vào Chúa, hai chữ “Thiên Chúa”
nói đến một Đấng Tối Cao, một Mầu nhiệm Tuyệt Đối, toàn năng và toàn thiện
mà ngôn ngữ loài người không thể diễn tả hết được. Nhưng đối với những kẻ
không biết Chúa, th́ hai chữ này không mang lại cho họ ư nghĩa như trên được.
Do đó, ngoài phạm vi tôn giáo, mệnh đề “Thiên Chúa có thật” chỉ là một giả
thuyết chưa được minh chứng. Trước khi xác định mệnh đề này đúng hay sai
th́ người nghe phải hiểu hai chữ “Thiên Chúa”: nói về ǵ và “có thật”: là có
cái ǵ? Nếu những điều kiện này không được thỏa măn th́ mệnh đề trên đây
cũng không khác ǵ với ”X có thật” mà chúng ta không biết “X” nói về ǵ,
hoặc sự “có thật” của Thiên Chúa có khác ǵ với cái bàn hay chiếc ghế “có
thật” hay không? Ví dụ sơ khởi này cho thấy có một sự khác biệt giữa cách
dùng ngôn ngữ trong tôn giáo và trong văn hóa thông thường.
-
- Nhưng
làm thế nào để phân biệt văn hóa với tôn giáo? Cả hai liên hệ hay nối kết
với nhau như thế nào? Paul Tillich, một thần học gia Tin Lành thời 1940-60,
cho rằng mọi tôn giáo đều mặc lấy một h́nh thức văn hóa, và mọi văn hóa đều
hàm chứa một bản chất tôn giáo. (2) Trong môi trường ngôn ngữ hiện tại,
khái niệm “bản chất” và “h́nh thức” c̣n gặp nhiều khó khăn, nhất là khi bàn
đến vấn đề “bản vị” của thần học. Tuy nhiên chúng ta phải công nhận là
không thể có tôn giáo nếu không có văn hóa, và ngược lại, văn hóa không thể
thành h́nh nếu không có những nền tảng đạo đức và tôn giáo duy tŕ nó từ đời
này qua đời kia. Khi các nhà truyền giáo Tây Phương đến Việt Nam, họ không
chỉ đem “bản chất” thuần túy của đạo Kitô, nhưng một đạo Kitô đă được suy
diễn, truyền đạt và trưởng thành trong bối cảnh của văn hóa Tây Phương.
Cũng như thế, Kitô giáo không chỉ mặc lấy một h́nh thức văn hóa Việt đơn
thuần, nhưng một nền văn hóa phức tạp và đa dạng, nung đúc và thấm nhuần với
những giá trị đạo đức và luân lư đến từ Khổng giáo, Phật giáo và Lăo giáo,
v.v. V́ thế, hội nhập văn hóa không phải là sự nối kết giữa “bản chất” của
tôn giáo này với “h́nh thức” của văn hóa kia, nhưng là một tiến tŕnh sát
nhập, gia nhập và hội nhập rất phúc tạp về cách dùng ngôn ngữ tôn giáo khi
hai nền văn hóa gặp gỡ nhau. (3) Cách dùng ngôn ngữ tôn giáo trong mỗi giai
đoạn sẽ xác định tŕnh độ hội nhập của mỗi giai đoạn. Chỉ khi chúng ta thấu
đạt được lối dùng ngôn ngữ tôn giáo trong từng bối cảnh văn hóa th́ lúc đó
mới có thể nhận diện khả năng “bản vị hóa” của bối cảnh đó.
-
- Nhận
thức được tầm quan trọng của ngôn ngữ trong sự nối kết giữa tôn giáo và văn
hóa, các nhà truyền giáo trước khi đến Việt Nam đều chuẩn bị học tiếng Việt
rất kỹ lưỡng. Có những vị như Cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) đă dày công
nghiên cứu và dùng mẫu tự Latin để phiên âm giọng nói của người Việt, sau
này được gọi là chữ Quốc Ngữ. (4) Họ muốn làm quen với ngôn từ tôn giáo
thường dùng để diễn đạt đạo đức và luân lư trong văn chương, ca dao, tục ngữ,
nói chung là nền văn hóa Việt Nam. Mục tiêu của họ là t́m trong văn hoá
Việt những ngôn từ đặc biệt khi nói đến th́ có thể đánh động đến ḷng đạo
đức hay đời sống luân lư của người Việt, và từ đó, có thể tạo nên một môi
trường ngôn ngữ thích hợp cho việc truyền bá đức tin và rao giảng đạo mới.
Cha Đắc Lộ đă thành công trong việc t́m kiếm “môi trường ngôn ngữ” này.
Mục tiêu của ngài là làm thế nào để giảng về “Deus” (God) cho một dân tộc mà
chưa hề nghe đến Thiên Chúa. Ngài ghép chữ “Chúa” (người có quyền hành) và
chữ “Trời” (có sẳn trong tiếng Việt) thành một cụm từ mới, “Đức Chúa Trời”
để chuyển dịch chữ “Deus” qua tiếng Việt. Từ đó, đạo mới do các cố Tây
giảng sẽ được gọi là đạo “Đức Chúa Trời.” Cái khôn ngoan của nhà truyền
giáo này là ngài đă t́m được trong chữ “Trời” những nét đặt thù tiêu biểu
cho luân lư và đạo đức của người Việt, và không ngần ngại dùng nó như môi
trường hội nhập giúp cho đạo Chúa được phát triển tại xứ sở mới lạ này.
-
- Đứng về
phương diện tôn giáo, có thể nói là hai từ ngữ “Deus” và “Trời” đồng nghĩa
với nhau v́ cả hai cùng ư chỉ đến một “Đấng” mà chúng ta tin là Tác Giả của
mọi sự vô h́nh và hữu h́nh trên trên đời này. Tuy nhiên, về phương diện
ngôn ngữ, không nên vội vàng đi đến kết luận là hai từ ngữ này mang cùng một
tác năng như nhau. V́ lẽ, nếu ngôn ngữ là môi trường mà từ đời này qua đời
kia đă giúp tạo dựng nên văn hóa của một dân tộc, hẳn nhiên sẽ có những qui
luật khác nhau điều khiển cách dùng hai từ ngữ “Trời” và “Deus.” Trong bài
tiểu luận này chúng ta sẽ có dịp quan sát các lối dùng ngôn ngữ tôn giáo
khác nhau. Phần đầu chúng ta sẽ phân tích ư nghĩa và tác năng của chữ
“Trời” trong văn chương truyền khẩu, văn học hán nôm, thư mục lưu kư Việt
Nam; phần sau sẽ t́m hiểu một số ngôn từ và khái niệm tiêu biểu về Thiên
Chúa dùng trong triết thần Tây Phương. Khi so sánh hai quan điểm khác biệt
này, chúng ta sẽ thấy rơ hơn vai tṛ của ngôn ngữ trong tiến tŕnh hội nhập
văn hóa. Từ đó chúng ta có thể thông cảm và rút tỉa một số bài học về cách
biệt ngôn ngữ đức tin giữa các thế hệ người Việt Công giáo đang sống tại hải
ngoại.
-
-
- I. Chữ
“Trời” Trong Tiếng Việt
-
- Trong
phần này chúng ta sẽ tóm lược những ư nghĩa phong phú của chữ “Trời” qua văn
học b́nh dân và văn học hán-nôm mà nhiều học giả như Trần Phổ, Nguyễn Đăng
Thục, Nguyễn Đổng Chi, Bùi Văn Nguyên, Thiện Đ́nh, Đổ Thị Hảo, v.v., đă dày
công nghiên cứu và sưu tầm.
-
- Trước
tiên, chữ “trời” là một từ ngữ rất thông dụng trong tiếng Việt. Theo cuốn
Đại Tự Điển Tiếng Việt (5) có ít nhất 50 cụm từ liên hệ đến chữ
“trời” (trời long đất lỡ, trời xui đất khiến, trời tru đất diệt, v.v.). Tùy
trường hợp, “trời” có thể dùng như là một danh từ, tĩnh từ hay thán từ. Nếu
là một danh từ th́ “trời” có ba ư nghĩa sau đây: (a) Khoảng không gian bao
phủ trên không (“Kiếp sau xin chớ làm người, làm cây thông đứng giữa trời
mà reo”), (b) Thiên nhiên, thời tiết (trở trời, trời hạn, trời băo,
v.v.), (c) Lực lượng siêu nhiên sáng tạo và quyết định mọi sự (trời
hành, trời phạt, v.v.). Nếu dùng như một tĩnh từ th́ có hai ư nghĩa
chính: (a) Hoang dại, không do con người vun trồng, nuôi dưỡng (vịt trời,
cải trời, của trời cho, v.v.); (b) Một thời gian rất lâu (ba năm trời
xa cách). Cuối cùng nếu dùng như một thán từ th́ có các ư nghĩa như:
(a) Tiếng than thở, thốt lên ngạc nhiên hay luyến tiếc (trời ơi!, quá
trời!, v.v.); (b) Một ẩn dụ, biểu tượng cho cái ǵ quá tầm tay con người
(Muốn làm trời sao? Những kẻ đội đá vá trời); (c) Tiếng dùng để chửi
mắng (trời đánh trật búa! đồ trời trồng!) (6)
-
- Nếu xét
theo nguồn gốc nguyên tự th́ “trời” là một từ Nôm, thuần Việt, do hai chữ
Hán, “thiên” và chữ “thượng” ghép lại. (7) Từ ngữ “Trời” đồng nghĩa với một
số từ các tôn giáo ngoại lai đưa vào Việt Nam: Thiên Hoàng, Thượng Thiên (Nho);
Thượng Đế, Ngọc Hoàng Thượng Đế (Lăo); Đức Chúa Trời, Chúa Cả Trời Đất (Thiên
Chúa giáo). Các thừa sai tại Trung Hoa ở thế kỷ 17 muốn phân biệt “Thiên” (vật
lư) và “thiên” (siêu nhiên) nên đă dùng “Thiên Chủ” để dịch chữ “Deus.”
Trong văn chương Việt Nam, hai chữ “trời” và “thiên” được dùng thay thế nhau:
cơ trời, thiên cơ, đạo trời, thiên đạo, mệnh trời, thiên mệnh. Có nhiều từ
như Hoá công, Con tạo, Trẻ tạo hoá, Hồng quân, Khuôn xanh, v.v.. cũng thấy
được dùng thường xuyên trong cổ văn Việt Nam.
-
- Xanh kia
thăm thẳm từng trên
- V́ ai gây
dựng cho nên nổi này (Chinh Phụ)
-
- Trẻ tạo
hóa đành hanh quá ngán
- Đắm đuối
người trên cạn mà chơi (Cung Oán)
-
- Hồng quân
với khách hồng quần
- Đă xoay
đến thế c̣n vần chưa tha. (Kiều)
-
- Trong
đời sống hằng ngày, những tiếng “nhờ Trời” hoặc “Trời ơi, hởi Trời!”
là những tiếng kêu đầu môi chót lưỡi của mọi người, bất kể lương hay giáo,
trí thức hay lao động, có tín ngưỡng hay không. Trước những biến cố bất ngờ,
bất khả kháng, người ta kêu Trời để nói lên ḷng biết ơn và cảm phục, để
than trách và cầu cứu, và nhất là kêu tự nhiên không cần phải suy nghĩ. (8)
-
- “Trời” trong
ca dao tục ngữ
-
- Trong
tục ngữ, ca dao “trời” thường là một hậu cảnh, làm cho tăng thêm lời hay ư
đẹp:
-
- Trời mưa
cho lúa chín vàng
- Cho anh
đi gặt cho nàng đem cơm
- Đem thời
bát sứ mâm son
- Chớ đem
mâm gổ anh hờn không ăn.
-
- Nhờ Trời
mưa gió thuận ḥa
- Nào cầy,
nào cấy, trẻ già đua nhau
-
- Vái trời
đừng gió đừng mưa
- Để trăng
sáng tỏ anh đưa em về
-
- Với
cuộc sống nông nghiệp, người Việt phải xem trời để biết thời tiết, biết ngày
giờ trồng trọt, chăn nuôi. Học giả Thiện Đ́nh đă sưu tầm một số câu nói
quen thuộc hay ngạn ngữ nói lên luân thường đạo lư, cách học ăn học nói,
cách chăm sóc ruộng vườn, buôn đông bán tây, ăn ở phúc đức, quan h́nh sát
sắc, nhân t́nh thế thái, phong thổ sản vật, xét lẽ phải chăng, v.v., nói
chung là cái quốc hồn quốc túy của người Việt. Trong đó, khái niệm “trời”
được dùng thông dụng nhất qua ư nghĩa thiên nhiên và thời tiết: (9)
-
- -Trời
nắng tốt dưa, trời mưa tốt lua.
- -Trời ấm
tốt mạ, trời giá tốt rau.
- -Trời
nắng chóng mưa, trời mưa chóng tối .
- -Gió đông
động bể, nước mưa cưa trời.
- -Trời
đang nắng cỏ gà trắng th́ mưa.
- -Trời
nắng chang chang, đất càng khó cuốc.
- -Trời mưa
phân-phất, ướt đất dễ cày.
- -Thấp mạ
phải tính con nước; cấy lúa phải xem thời trời.
- -Giữa
trời có sang Vân-hán; một năm là mấy tháng xuân
- -Trời
rộng bể cũng rộng; trăng cao bóng càng cao.
- -Trời
quang mây tạnh cũng êm đềm; quăng vắng canh chầy đêm dài đằng đẵng.
- -Mù trời
mới bắt được két; mưa măi lấp cả lỗ rươi.
-
- Từ cách
quan sát “trời” để biết thời tiết mà trồng trọt, đánh cá, chăn nuôi, người
Việt cũng rút tỉa cả những bài học về cách xử thế hoặc về đạo đức mẫu mực
cho sự giao tế hằng ngày. Đâu là một khái niệm khách quan về Trời, một chân
lư đại đồng, đến từ kinh nghiệm sống với xă hội và thiên nhiên:
-
- -Trời cao
mấy tất, đất dày mấy phân; ông trăng một sào, ông sao một mẫu.
- -Trời đất
hương hoa, người ta cơm rượu.
- -Biết sự
trời một đời không khó.
- -Thua
trời một vạn c̣n hơn thua bạn một ly.
- -Của trời
của chung.
- -Chín
phương trời, mười phương phật; một th́ loạn, vạn th́ b́nh.
- -Lộc nước
ngôi trời; quê cha đất tổ.
- -Trời gần
trước mắt không xa, phúc qui thiên đàng, tội qui địa ngục.
- -Trời cao
có mắt.
-
- Người
Việt biết là có Trời nhưng không cần chứng minh sự hiện hữu của Trời. Họ
dùng trực giác và kinh nghiệm sống để cảm nghiệm sự hiện diện này như là
“tác giả” của mọi sự cao cả quá tầm tay loài người trên đời này. Do đó, có
những câu đố hay bài hát vè mà không cần câu trả lời, v́ ai cũng biết câu
giải đáp phải là “Trời”:
-
- Non kia
ai đắp mà cao
- Sông kia
ai bới ai đào mà sâu?
-
- Đố ai
biết lúa mấy cây
- Biết sông
mấy khúc, biết mây mấy từng?
-
- Thấy anh
hay chữ em hỏi đôi lời
- Thủa khai
thiên lập địa, ông Trời tṛn ai xây?
-
- Người
Việt chấp nhận là ḿnh không biết Trời từ đâu ra, nhưng vẫn tin là phải có
Trời th́ mới có mọi sự an bài công minh trên trần gian. Qua một số câu ca
dao tục ngữ sau đây chúng ta thấy ư niệm Trời trong ḷng người Việt mang một
tính chất rất đại đồng và b́nh dân, biểu hiệu một sự trật tự trong chúng
sinh, một sức mạnh bảo bọc che chở vạn vật, để muôn loài dựa vào đó mà sống:
(10)
-
- - Có Trời
th́ mới có ta.
- - Trời
sinh voi, trời sinh cỏ.
- - Trời
cho ai nấy hưởng.
- - Trời
kêu ai nấy da.ï
- - Trời
sinh, Trời dưỡng.
- - Cha mẹ
sinh con, trời sinh tánh.
- - Trời
đánh tránh bữa ăn.
- - Trời
đánh thánh vật.
-
- Tuy
Trời uy quyền cao cả, nhưng người Việt thích nhân cách hóa Trời là “Ông” và
thường xin “Ông trời” phù trợ, che chở, ban cho nhu cầu riêng tư hoặc những
ước mơ thầm kín của mỗi người.
-
- Bắc thang
lên hỏi ông trời
- Sao không
bố thí cho tôi tí chồng
- Ông Trời
ngoảnh mặt lại trông
- Mày hay
kén chọn, ông không cho mày.
-
- Lạy Trời
mưa xuống
- lấy nước
tôi uống
- lấy ruộng
tôi cày
- lấy đầy
bát cơm
- lấy rơm
đun bếp, v.v..
-
- Khi gặp
nghịch cảnh hoặc quá khổ cực, người Việt oán trách Trời. Họ kêu Trời để
chứng giám và minh oan, v́ họ tin rằng Trời là nguyên lư cho mọi sự công
bằng trên đời này. (11)
-
- Trời ơi
có thấu chăng Trời
- Công ta
vun xới cho người hái hoa.
-
- Trời ơi!
Trời ở chẳng cân
- Người ăn
chẳng hết, người lần không ra.
- Người th́
mớ bẩy mớ ba
- Người th́
áo rách như là áo tơi.
-
- Ở nhà
quê, trước sân mỗi nhà thường có một trụ gỗ, trên có thắp một cái đèn nhỏ và
nắm hương gọi là “đèn trời.” Đêm đêm người ta đến đó khấn vái hoặc đem
những đau khổ trong cuộc sống mà than van với Trời:
-
- Mỗi đêm
mỗi thắp đèn Trời
- Cầu cho
cha mẹ sống đời với con.
-
- Lá vàng
th́ ở trên cây
- Lá xanh
rụng xuống, Trời hay chăng Trời.
-
- “Trời” trong
các chuyện cổ tích
-
- Truyện cổ
tích Việt Nam có nhiều sự tích về thần Trụ Trời, các thần hạ bộ trên trời,
và cả Bà Trời nữa. (12)
-
- -Thần Trụ
Trời: tổ tiên người Việt (Cổ Bách Việt) cho rằng
trời đất là do công lao của một vị Thần Khổng Lồ, tức là Thần Trụ Trời (Trụ:
do 2 chữ Mộc và Chủ). Lúc trời đất c̣n hỗn mang, Thần ở trong đám mù tịt
không biết là bao lâu. Bỗng có lúc Thần đứng dậy, ngẩng đầu đội trời lên,
rồi đào đất khuân đá đắp thành một cái cột lớn để chống trời. Cột chống cao
lên chừng nào th́ trời như tấm màng mênh mông được cao lên chừng ấy. Thần
vừa đào, vừa đắp, chẳng bao lâu cột cao dần và đầy trời lên măi tận mây xanh,
trời đất phân đôi, trời như cái bát úp, đất phẳng như mâm vuông, nơi giáp
nhau gọi là chân trời. Khi ṿm trời đă khô, Thần cho là âm dương đă phân
định, cột trụ trời không cần nữa, Thần phá đi, đất đá ném tung khắp nơi, trở
thành núi cao hay ḥn đảo giữa biển khơi. Tương truyền đây là cột trụ ở
huyện Kinh Môn tỉnh Hải Hưng nằm trên núi Yên Tử, trên đỉnh cao nhất có Ḱnh
Thiên Trụ, và chùa Tường Lân mà An Sinh Vương Trần Liễu thân sinh Đại Vương
Trần Hưng Đạo, từng đóng ở đây. Về sau Trần Nhân Tông, tổ thứ nhất của phái
Trúc Lâm Việt Nam, rể yêu của Trần Hưng Đạo, cho lập đền thờ họ Trần tại đây.
-
- -Các thần
khác nối tiếp công việc xây dựng thế gian của Thần
Trụ Trời như trong bài ca dao:
-
- Ông đếm
cát
- Ông tát
bể
- Ông kể
sao
- Ông đào
sông
- Ông trồng
cây
- Ông xây
núi
- Ông tối
trời
- Ông cời
cua
- Ông lùa
chim
- Ông t́m
sâu
- Ông xâu
cá
-
- -Các thần
bộ hạ có quyền phép như Thần sấm, thần sét, Thần
gió, Thần mưa, Sơn Tinh, Thủy Tinh, v..v... Việc cai trị nhà trời cũng có
khi lỏng lẽo nên xảy ra những vụ loài người loài vật coi Trời bằng nắp vung
(Cường Bạo Đại Vương), hoặc chuyện Thần Mưa chễnh mảng nhiệm vụ, để dưới thế
hạn hán lâu ngày, loài vật dành nhau từng ngụm nước, phải cử Cóc lên kiện
Trời. Cóc đại náo cửa nhà Trời, Trời phạt Thần Mưa và gọi Cóc bằng Cậu. Từ
đó mỗi lần Cóc kêu th́ sẽ có mưa!
-
- Con cóc
là cậu Ông trời
- Ai mà
đánh cóc th́ trời đánh cho!
-
- -Bà Trời:
theo nguyên lư âm dương, đă có Ông Trời th́ phải có Bà Trời. Chuyện cổ tích
Bà Nữ Oa kể lại một Thần Cái khổng lồ (chế độ mẫu hệ), có công xây rừng rú,
đào sông bể, đội đá vá trời, san bằng đất với sức khoẻ và sức nóng vô biên.
Nữ Oa thách thức Tử Tượng đấu sức thi tài, nếu thắng sẽ nhận làm chồng. Hẹn
trong ba ngày phải xây một ngọn núi thật cao, núi Tử Tượng xây không được
cao, chỉ thấy được các nước lân cận, núi Nữ Oa nh́n thấy cả bốn chân trời.
Nữ Oa đạp đổ núi Tử Tượng, đất đá văng tung tóe thành đồi và đảo xa, c̣n núi
Bà Nữ Oa có thể là núi Nam giới (Hà tĩnh) hoặc là núi Bà Đen (Tây Ninh).
Cũng có nhiều truyện về các Nữ Thần như Nàng Bân, Ả Chức, Nữ Thần Lửa (một
bà già rất khô khan và hung dữ), Nữ thần mặt Trăng, Nữ thần mặt Trời. (13)
-
- -Các
chuyện cổ tích “Chum Vàng Bắt được,” “Cái Cân Thủy
Ngân,” “Chuyện Tấm Cám” thường nói về “Ông Trời” như một vị Thần thương
người thiện, ghét kẻ ác đức, giáng phúc cho người tốt, họa phúc cho người
xấu. Trời rất cao, Trời thấy mọi sự, lưới Trời lồng lộng, kẻ bất nhân ác
đức không lẩn tránh được mắt Trời. Trời đại diện cho luật công bằng trên
đời này, không ai thoát được.
-
- “Trời” trong
thư mục lưu kư
-
- Trong
những thư mục lưu kư, các vua chúa và quan quyền Việt Nam bất kể tôn giáo
nào cũng thường hay dùng “Trời” để gây thêm hiệu lực cho lời nói và tư tưởng
của ḿnh. Khái niệm “Trời” ở đây thường được hiểu như “thiên mệnh,” “Thiên
Cơ” hay “Đạo Trời” của Nho Giáo. (14)
-
- -B́nh
Ngô Đại Cáo (Nguyễn Trải) kêu gọi nhân tài ra giúp
nước, “Bởi Trời muốn thủ ḷng, để trao mệnh lớn, nên ta càng gắng chí,
quyết vượt gian nguy.” Khi ca mừng chiến thắng, “Càn khôn bỉ rồi lại
thái, nhật nguyệt rồi lại minh... âu cũng nhờ Trời đất tổ tông linh thiêng
ngầm giúp mới được như vậy.” (15)
-
- -Sư Viên
Thông giăi bày vua Lư Thần Tông về lẽ trị dân:
“Trời đất không thể thay nóng đổi rét liền mà dần dần ở mùa xuân, mùa thu.
Bậc vua chúa không làm hưng hay vong liền mà dần dần ở sư thiện hay ác. Bậc
thánh vương xưa biết thế cho nên mới bắt chước đức Trời để sửa ḿnh.”
(16)
-
- -Vua Lư
Thái Tổ dời đô về Thăng Long có ra chiếu: “Xưa
có phải là các vua theo ư riêng của ḿnh, tự tiện dời đổi đâu, chỉ tại là
tính việc muôn đời cho con cháu, trên nghĩ mệnh trời, dưới theo ḷng dân.
Thế mà đời Đinh, Lê, theo ư riêng, quên mệnh trời... cứ cẩu an ở đây, đến
nổi ngôi truyền không bền, ta rất lấy làm buồn, không dời đi chổ khác được
th́ không yên.” (17)
-
- -Vua Lư
Nhân Tông truớc khi chết không muốn thiên hạ để
tang khóc thương ḿnh lâu dài nên viết một di chiếu để lại: “Trẫm ít đức
không an được trăm họ, kịp đến lúc chết lại bắt muôn dân phải để tang trên
ḿnh... Trẩm không muốn như vậy. Trẫm từ nhỏ được nối ngôi rồng... đă 5,6
năm nhờ có được Hoàng Thiên tin giúp, bốn biển không lo, biên thùy ít loạn,
chết được liệt sau hàng Tiên quân là may lắm rồi, c̣n khóc thương mà làm ǵ.”
(18)
-
- -Vua Lư
Thái Tông sau khi đánh thắng quân Nùng (1039), ra
bố cáo: “Ta từ khi làm chúa giang sơn lại nay các bề tôi văn vũ chửa từng
sơ suất điều đại tiết. Nay có Tồn Phúc càn rỡ tự làm lớn, phá hại dân cư ven
cơi. Trẫm mới vâng lịnh Trời cất quân đi đánh bắt được bọn Tồn-Phúc 5 người
chém bêu đầu ngoài chợ.” (19)
-
- -Vua Lư
Chiêu Hoàng khi nhường ngôi cho chồng (năm Ất Dậu,
1225) ra chiếu: “Nhà Lư ta vâng lấy mệnh Trời, trùm ra bốn biển... không
may Thượng hoàng mang bệnh, không kẻ nối ngôi... Nay Trẩm tính đi toán lại,
chỉ có Trần Cảnh, văn chất đầy đủ rơ ràng ra dáng bậc hiền nhân quân tử, uy
nghi lẫm liệt có đủ vẻ thánh thần văn vơ... bấy lâu thử cũng đă kỷ rồi, nên
chỉ nhường ngôi lớn để yên ủi ḷng Trời, để xứng đáng ḷng Trẩm.” (20)
-
- -Nhà Trần
sau hai lần đại phá quân Nguyên nhưng vẫn nhún nhường sai sứ đi cầu ḥa:
“Thế tử nước An-Nam, thần mọn là Trần Nhật Huyến trăm lạy sợ sệt liều chết
chịu tội dâng thư lên đức Hoàng Đế bệ hạ mệnh Trời dành ngôi...” (21)
-
- -Sách Đại
Việt Sử Kư (đời nhà Trần, Lê Văn Hưu, 1272)
phê b́nh về vua họ Lư như sau: “Trời sinh ra dân mà
đặt cho họ một ông vua để chăn dắt, chẳng phải tự cung sung sướng một ḿnh...
Vua Thần Tông xuống chiếu bắt con gái các quan để chọn xong rồi mới gă đó là
chẳng phải bụng làm cha mẹ dân nữa.” (22)
-
- -Nguyễn
Phi Khanh tả chỗ ở hưu trí của ông nhạc ḿnh (Trần
Nguyên Đán) như sau: “Kẻ hiền đạt, khi xuất khi xử, động cũng theo lẽ
trời vui cũng theo lẽ trời. Trời là thế nào? Là một bậc lớn trong rất
trổng mà thôi. Bốn mùa lên năm mà không kể công, muôn vật đội ơn mà không
lộ dấu. Không phải bật rất trong rất trổng th́ ai làm được như thế?”
(23)
-
- Ngoài
ra, trong các tác phẫm Hán ngữ như Việt Điện U Linh Tập (Lư Tế Xuyên,
1329), Truyền Kỳ Mạn Lục (Nguyễn Dữ, đời Lê), Công Du Tiệp Kư (Vũ
Phượng Đế, 1755), Hoàng Việt Thần Kỳ Tục Tổng Sách (cuối thế kỷ 18),
Tục Truyền Kỳ (Đoàn Thị Điểm), khái niệm Thượng Đế được xem như là
một vị Thần uy quyền trên các Thần, trên cả vua (Thiên Tử). Chữ
“Trời” thường dùng trong bối cảnh của thuyết Thiên Mệnh, Thiên Đạo hay Thiên
Cơ của Nho giáo. (24) Một trong những bài thơ nổi danh về thuyết Thiên Mệnh
là bài thơ của Lư Thường Kiệt. Năm 1076 hơn tám vạn quân Tống tấn công rất
hăng ở sông Như Nguyệt (Bắc Ninh). Lư Thường Kiệt sợ quân thối chí, làm một
bài thơ nói là của Thần cho, ba quân chuyền nhau đọc, ai ai cũng nức ḷng
đánh giặc:
-
- Nam quốc
sơn hà nam đế cư
- Tiệt
nhiên định mệnh tại thiên thư
- Như hà
nghịch lỗ lai xâm phạm
- Nhũ đẳng
hành khan thủ bại hư.
-
- Nguyễn Đổng
Chi dịch như sau:
-
- Nước Nam
Việt có vua Nam Việt
- Trên sách
Trời chia biệt rành rành
- Cớ sao
giặc dám ḍm hành
- Rồi đây
bay sẽ tan tành cho coi!
-
- Ba quân
tướng sĩ lên tinh thần v́ họ tin có Ông Trời và ư Trời, tư tưởng ấy khi gặp
thuyết Thiên Định của Nho giáo, bùng lên như một sức mạnh bất khuất, không
khác ǵ khái niệm “Trời” đă có sẳn trong ca dao truyền khẩu b́nh dân từ thời
Hai Bà Trưng, Lư Bôn, Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Lợi, Lê Hoàn:
-
- Nước non
là nước non Trời,
- Ai cắt
được nước, ai dời được non!
-
- “Trời” trong
văn học chữ Nôm
-
- Trong
các bản văn nôm nổi tiếng của Việt Nam, đặc biệt là Chinh Phụ Ngâm, chữ
“trời” được dùng rất là súc tích, theo cả ba ư nghĩa thiên nhiên, nhân cách
hóa, và luân lư đại đồng:
-
- Thủa trời
đất nổi cơn gió bụi
- Khách má
hồng lắm nổi truân chuyên.
-
- Trời hôm
tựa bóng ngẩn ngơ
- Trăng
khuya nương gối bơ phờ tóc mai.
-
- Mũi đồng
bác đôi lần hăm ở
- Đă ḷng
trời ǵn giữ người trung.
-
- ơn trên
ấm tử thê phong
- Phân vinh
thiếp cũng được chung hương trời.
-
- Nhưng
khi “Trời” dùng để nói đến một đấng công bằng và thưởng phạt phân minh, th́
người Việt không ngần ngại tỏ lời oán trách hoặc đổ thừa cho Trời là vô t́nh
và thiếu cảm thông cho nổi khổ của kiếp người. Trong cả ba tác phẩm chữ Nôm
của Việt Nam, Cung Oán Ngâm Khúc, Thiên Nam Ngữ Lục và Chinh Phụ Ngâm, đều
thấy rơ điều này:
-
- Quyền họa
phúc Trời tranh mất cả
- Món tiện
nghi chẳng giả phần ai. (Cung Oán)
-
- Ai công
cho bằng đạo trời
- Phụ người
chưng bấy thấy tươi nhăn tiền. (Thiên Nam Ngữ Lục)
-
- Trách
trời sao để nhỡ nhàng,
- Thiếp rầu
thiếp lại rầu chàng chẳng quên. (Chinh Phụ)
-
- Cuối
cùng, Truyện Kiều, một di sản quí báu mà Nguyễn Du đă để lại cho tiếng Việt,
mang nhiều ư niệm phong phú nhất về “Trời.” Trước hết bầu trời là một hậu
cảnh hữu t́nh, hiểu theo ư nghĩa thiên nhiên:
-
- -Cỏ xanh
chạy cuối chân trời
- -Long lay
đáy nước in trời
- -Trong
vời trời bể mênh mông
-
- Tác giả
Truyện Kiều tin có ư Trời và mệnh Trời. Trời quyết định tất cả mọi sự trên
đời. Trời điều khiển số phận con người và không ai thoát khỏi mệnh trời.
-
- Ngẫm hay
muôn sự tại trời
- Trời kia
đă bắt làm người có thân
- Bắt phong
trần phải phong trần
- Cho thanh
cao mới dự phần thanh cao.
-
- Cũng liều
nhắm mắt đưa chân
- Thử xem
con tạo xoay vần đến đâu.
-
- Nghĩ ḿnh
phận mỏng cánh chuồn
- Khuông
xanh có biết vuông tṛn hay không
-
- Rủi may
âu cũng sự trời
- Đoạn
trường ai chọn mặt người vô duyên
-
- Các
nhân vật trong Truyện Kiều khi gặp gian nan đều kêu Trời để chứng giám và
minh oan, v́ họ tin rằng Trời phân xử rất công minh và đoái hoài đến kẻ gặp
gian nan:
-
- Vưong bà
nghe bấy nhiêu lời
- Tiếng oan
đă muốn vạch trời kêu lên
-
- Một lời
đă trót thâm giao
- Dưới dày
có đất, trên cao có trời
-
- Qua
nhiều đoạn trường đau khổ con người sẽ từ từ thấu hiểu “mệnh trời” và chấp
nhận thân phận của ḿnh. Tuy nhiên, Nguyễn Du cũng tin là trong thế cuộc,
có phần của Trời và cũng có phần của người. Mỗi người có số phận, nhưng
công đức trên đời cũng do bàn tay con người mà ra. Đây là ảnh hưởng từ
Phật giáo:
-
- Có trời
mà cũng có ta
- Tu là cơi
phúc t́nh là giây oan
-
- Nàng rằng
lồng lộng trời cao
- Hại nhân
nhân hại, sự nào tại ta.
-
- Đă mang
lấy nghiệp vào thân
- Cũng đừng
trách lẫn trời gần trời xa
- Thiện căn
ở tại ḷng ta
- Chữ tâm
kia mới bằng ba chữ tài.
-
-
- II. Ngôn
Ngữ Về “Deus” Trong Thần Học Tây Phương
-
- Trong
tinh thần tham thông của người Việt, từ cơi thượng thiên cho đến cơi phàm
chưa bị phân cách, hai thế giới vô h́nh và hữu h́nh đều có thể hiện diện đan
quyện với nhau trong cùng thời gian và không gian. Tuy nhiên, triết thần
Tây Phương không chấp nhận điều đó; v́ thế giới mà chúng ta đang sống là một
thực tại hữu h́nh, mọi biến cố hay hiện tượng xảy ra trong thế giới này đều
có thể cảm nhận hoặc minh chứng bằng các nguyên lư thực nghiệm, những ǵ xảy
ra “bên ngoài” thời gian và không gian th́ không có sự bảo đảm tri thức.
Đây là một thử thách cho triết thần Tây Phương khi phải dùng ngôn ngữ của
thế giới hữu h́nh để nói về “Deus” là Đấng Vô H́nh, hay phải diễn đạt bản
chất “tuyệt đối” của Thiên Chúa qua ngôn ngữ tương đối và tránh những hố sâu
của chủ quan hay chủ nghĩa duy thực nghiệm.
-
- Mặt
khác, những từ ngữ quen thuộc như “Deus,” “Dieu,” “Dios,” “God,” và “Chúa”
thật ra cũng chỉ là những ngôn từ mà tiếng Latin, Pháp, Tây Ban Nha, Anh và
Việt dùng để diễn tả một mầu nhiệm “Tuyệt đối” mà con người cảm nghiệm, chứ
không phải là “tên xưng” của Thiên Chúa. Khi Môisen đến hỏi Chúa tên ǵ th́
Ngài chỉ trả lời, “Ta là Đấng Hiện Hữu” tức là đối với muôn thế hệ quá khứ,
hiện tại và tương lai, Ngài luôn luôn sẽ là Thiên Chúa của họ. (25) Do đó,
khi biết dùng chữ “Chúa” hay “God” không có nghĩa là chúng ta có một bảo đảm
tri thức về Thiên Chúa. Đây là những trở ngại phải vượt qua nếu thần học
không muốn thinh lặng hay giữ thái độ tiêu cực về sự hiện diện của Thiên
Chúa trong thế giới con người. Thần học không thể thinh lặng về Thiên Chúa
khi đứng trước một thế giới với đầy kỷ thuật tân tiến và phát minh khoa học,
nhưng vẫn c̣n đầy dẫy bất công, đói rách, bệnh tật, kỳ thị chủng tộc, và
nhất là chiến tranh và khủng bố, con người tiêu diệt lẫn nhau chỉ v́ họ hiểu
và dùng ngôn ngữ khác nhau để nói về Thiên Chúa và Nước Trời!
-
- Trong
quá khứ, thần học Tây Phương đă t́m cách diễn đạt sự tuyệt đối của “Deus”
qua các khái niệm tương tự như: tối cao, vĩ đại, toàn năng và toàn thiện.
Đây là những ngôn từ biểu hiệu cho sự hoàn hảo tối cao, nguồn gốc của mọi sự
trên đời, hay sự thiện toàn đáng cho loài người tôn thờ. Từ đó, thần học
dựa theo những mô thức triết học đương thời mà khai triển những cách nói về
Thiên Chúa sau đây: Bản thể Tối Cao, Nguyên Nhân của vũ trụ, và Nền tảng của
luân lư. Gần đây, qua ảnh hưởng của hiện tượng và hiện sinh học, thần học
dùng ngôn ngữ “cảm nghiệm” (cả tích cực và tiêu cực) để nói về sự mặc khải
của Thiên Chúa trong lịch sử. Chúng ta hăy lược sơ qua bốn loại ngôn ngữ
tiêu biểu này.
-
- “Bản Thể”
Tối Cao
-
- Có ba
cách diễn tả về “bản thể tối cao.” Trước tiên, Augustinô, Giám Mục thành
Hippo ở đầu thế kỷ thứ 5, cho rằng Thiên Chúa đại diện cho Chân lư tối cao,
và chân lư th́ phải có thật. Cho dù kẻ đa nghi cách mấy, khi tranh luận cho
đường lối suy tư của họ cũng phải dựa trên một nền tảng chân lư nào đó để có
thể thách đố hoặc bác bỏ những lư lẽ của đối phương. (26) Đối với
Augustinô, Chúa là Chân Lư vĩnh viễn, bao gồm cả mọi sự thiện lành và hoàn
hảo, và là nền tảng của mọi h́nh ảnh và tích hiệu ngôn ngữ mà con người
dùng để nói lên khác vọng bề sâu của tâm hồn. Thứ đến, Anselmô, một đan sĩ
ḍng Beneditô ở cuối thế kỷ thứ 11, dùng ngôn ngữ “tối cao tuyệt đối” để nói
về bản thể tối cao. Ông ta chứng minh rằng, nếu Chúa thật sự là “Đấng Tối
Cao” tuyệt đối (không có đấng nào tối cao hơn mà ta có thể tưởng tượng đến
được), th́ Chúa phải có thật! V́ lẽ, tối cao tuyệt đối ở đây không chỉ về
tư tưởng, mà cả về sự hiện hữu mới được thật sự là “tối cao” (ontological
argument). (27) Do đó, nếu con người hiểu Thiên Chúa là một Đấng Tuyệt
Đối, th́ Thiên Chúa phải có thật, nếu không lư trí sẽ bị mâu thuẩn với chính
ḿnh. Cuối cùng, triết gia Descartes ở thế kỷ thứ 17 dựa trên nguyên tắc
“Cogito ergo sum” nói về Thiên Chúa như một “Đấng Hoàn Hảo” tuyệt đối. Nếu
hành động “nghi ngờ” đ̣i hỏi phải có một chủ thể để sự “nghi ngờ” có được,
th́ tư tưởng “hoàn hảo” phải khẳng định sự hiện hữu của một Chủ Thể Hoàn
Hảo. Descartes quả quyết là phải có một Đấng Hoàn Hảo tuyệt đối đă đặt tư
tưởng “hoàn hảo” vào đầu óc con người, cho dù trong thế gian cũng không có
ǵ là tuyệt đối hoàn hảo cả. (28)
-
- Cả ba
cách diễn đạt trên đây liên kết yếu tính “tối cao” của Thiên Chúa với những
khát vọng sâu sa nhất nơi con người. Khi “Đấng Tối Cao” trở thành đối tượng
của tri thức, th́ con người cũng đương nhiên trở thành một chủ thể có khả
năng t́m kiếm vô hạn. Ngôn ngữ về khác vọng bề sâu dễ đánh động đến đức tin
và tâm linh con người, v́ nó nói đến bản chất vô thường, vô thủy, vô chung
của Thiên Chúa mà con người không có được. Nhưng trở ngại vẫn là làm sao
biết chắc là những khác vọng về chân lư hay sự hoàn hảo phải đến từ một “Bản
Thể” tuyệt đối? Làm sao bảo đảm được rằng mọi khái niệm về sự “tối cao” đều
có nội dung thật sự, thay v́ là những phạm trù trống rỗng?
-
- “Nguyên
Nhân” của vũ trụ
-
- Trong
khi đó, thánh Tôma Aquinô đă suy diễn từ sự “hiện diện” của vũ trụ đến sự
“hiện hữu” thay v́ “bản thể” của Thiên Chúa. “Deus” được hiểu như Tác Giả
và Nguyên Nhân của mọi sự hữu h́nh và vô h́nh trên đời này. Thánh Tôma đưa
ra năm “cách” nói về Thiên Chúa, nhưng chúng ta chỉ tóm tắt lại ba điểm
chính sau đây: (29)
-
- -Trước nhất,
thánh Tôma cho rằng mọi tạo vật trên đời này được tạo thành đều phải do một
nguyên nhân nào đó đă có trước nó, và nguyên nhân đó cũng phải từ một nguyên
nhân có trước nó mà ra. Nhưng cuối cùng, phải có một Nguyên Nhân đầu tiên,
tự nó mà có, nếu không th́ chúng ta phải tiếp tục lư luận ngược măi cho đến
vô cực và sẽ trở thành vô lư. “Nguyên nhân đệ nhất” này cũng chính
là tên để nói về Thiên Chúa.
-
- -Tương tự
như thế, mọi sự biến đổi trên đời này phải đi từ bản thể này qua bản thể
khác, cũng như gổ cháy thành than, nước sôi bốc thành hơi. Nhưng bản thể tự
ḿnh nó không thể có được, do đó phải có một Bản Thể thường hằng mà qua đó
mọi biến đổi bản thể có thể xày ra được. “Bản Thể thường hằng” này
là tên để nói đến Thiên Chúa.
-
- -Cuối cùng
thánh Tôma quan sát rằng mọi tạo vật đều phát triển theo như mục đích đă
được phát họa sẵn. Một hạt giống cây cho dù khô cách mấy khi gặp môi trường
thích hợp sẽ triễn nở nên cây cối xum tươi, giống như cây mẹ của nó. Từ một
vi khuẫn nhỏ bé cho đến những ngôi sao vĩ đại, tất cả đều tuân theo mục tiêu
và phát họa đă được qui định sẳn. Do đó phải có một Tri Thức tuyệt đối nào
đó đă đặt nên mục tiêu và phát họa cho vũ trụ này. “Tri Thức tuyệt đối”
này cũng là tên mà chúng ta gọi Thiên Chúa.
-
- Những
cách thức “gọi tên” Thiên Chúa của thánh Tôma trên đây có phần thực tế và đi
gần với trực giác hơn. Chỉ cần quan sát vũ trụ là con người có thể liên
tưởng ngay đến Tác Giả hay Nguyên Nhân nào đó đă tác thành mọi sự. Tuy
nhiên, trở ngại ở đây là các khái niệm “Nguyên Nhân đệ nhất,” “Bản Thể
thường hằng,” hay “Tri Thức tuyệt đối” là những phạm trù của tri thức,
chứ không phải là những thực thể mà chúng ta có thể cảm nhận trong cuộc sống
hằng ngày. Nếu chúng ta cảm nhận được những thực thể này th́ nó không c̣n
là “đệ nhất,” “thường hằng,” hay “tuyệt đối” nữa! Khi
dùng những thực thể tuyệt đối này như “tên gọi” về Thiên Chúa th́ chúng ta
cũng chưa có một sự bảo đảm tri thức.
-
- “Nền Tảng”
của luân lư
-
- Triết
gia Immanuel Kant ở thế kỷ 18 đă cố gắng vượt qua trở ngại trên đây bằng
cách vạch trần những giới hạn trong cách dùng ngôn ngữ tôn giáo. Kant cho
rằng đa số ngôn ngữ đều đến từ cảm nghiệm của giác quan, nhưng cũng có một
số ít như, “nguyên nhân,” “thời gian,” hay “không gian” là
“khái niệm” mà thôi, tức là chúng ta không thể nối kết các từ ngữ này với
một thực thể nào đang hiện diện trong thế giới của chúng ta. Nhưng không
phải v́ thế mà “khái niệm” không có thật, v́ nếu “thời gian” hay “không
gian” không có thật th́ chúng ta không thể thấu hiểu, diễn đạt, cảm nghiệm,
trao đổi tư tưởng được, v.v., nói chung là sống và trưởng thành trong thế
giới này. Tương tự như thế, con người có khái niệm “Thiên Chúa” không phải
v́ con người cảm nghiệm được Ngài qua giác quan, hay Thiên Chúa hiện diện
với chúng ta như cái bàn hay chiếc ghế đang ở trong pḥng. Trái lại, không
ai có thể “thành nhân” (moral person), tức là trở trưởng thành với sự
hiểu biết về lương tâm và trách nhiệm làm lành lánh dữ, nếu chúng ta không
có sẵn một khái niệm nào đó về “Deus.” (30)
-
- Kant
cắt nghĩa là làm người ai cũng t́m hạnh phúc, và hạnh phúc cao đẹp nhất là
hạnh phúc đem đến sự trọn lành toàn vẹn. Nhưng muốn được trọn lành toàn vẹn
nhiều khi phải hy sinh, chịu đau khổ. Mặt khác, nhiều người cho rằng muốn
được hạnh phúc đôi khi phải ích kỷ, lo bảo vệ quyền lợi riêng tư, thiếu sự
trọn lành toàn vẹn. Tuy nhiên, không phải v́ thế mà con người sống buông
thả. Trái lại trong thâm tâm con người luôn bị lôi kéo bởi tiếng nói của
lương tâm. Nhưng trách nhiệm sống trọn lành và sự tự do t́m hạnh phúc chỉ
có ư nghĩa khi con người đă tin vào sự hiệp nhất của hạnh phúc và trọn lành
(“Nước Trời”). Tương tự như thế, chúng ta chấp nhận sự mâu thuẩn
giữa thế giới thực tại (natural world) và thế giới luân lư (moral
word) chỉ v́ chúng ta đă tin là cả hai đều từ một nguồn gốc hay nền tảng
Thiện Toàn nào đó (“Thiên Chúa”). Do đó khi chúng ta đi t́m hạnh
phúc và sự trọn lành trên đời này tức là chúng ta đă có “khái niệm” sơ khởi
nào đó về Thiên Chúa!
-
- Lối
diễn đạt Thiên Chúa như nền tảng luân lư tuy trừu tượng nhưng đă giúp đưa
khái niệm “Deus” đến gần với con người hơn. Cho dù chưa ai thấy được Chúa,
nhưng v́ biết rằng phải có Chúa th́ cuộc sống luân lư đạo đức, hy sinh trọn
lành trên đời này mới có ư nghĩa. Hay nói ngược lại, con người không có tự
do thật sự để theo đuổi hạnh phúc trên đời này, nếu đă không có sẳn khái
niệm về “Deus” như một sự hợp nhất và nền tảng của mọi hạnh phúc và trọn
lành vĩnh cửu. Tuy nhiên, ngôn ngữ “khái niệm” c̣n hơi có vẽ xa lạ với
nhiều tín hữu, v́ người ta không tôn thờ Chúa như một “khái niệm” nhưng phải
là một Đấng Từ Bi, Đấng Tối Cao hoặc Ông Trời.
-
- “Giới Hạn”
của cảm nghiệm
-
- Gần đây
hơn, với ảnh hưởng của hiện tượng học và hiện sinh học, thần học Công giáo
có khuynh hướng dùng ngôn ngữ “cảm nghiệm” như là một chân trời tri thức để
nói về sự mặc khải của Thiên Chúa. Con người không chỉ muốn biết về thế
giới chung quanh ḿnh, nhưng muốn hiểu cả về ư nghĩa của mọi biến cố xảy ra
trong cuộc sống, nhất là ư nghĩa về cuộc sống của chính ḿnh khi con người
đứng trước sự chết và những giới hạn khác của đời người. Nói cách khác, với
một chân trời tri thức vô hạn và phải sống trong một thế giới hữu hạn, con
người trở thành “mầu nhiệm” cho chính ḿnh, từ đó bị thúc đẩy đi t́m hiểu ư
nghĩa của cuộc sống cả bên trong và ngoài lịch sử. Con người hy vọng rằng
những khắc khoải sâu xa nhất cuối cùng sẽ được thỏa măn. Thần học cho rằng
những khát vọng sâu sa này không phải tự con người mà có, nhưng là v́ mầu
nhiệm Tối Cao Vô Hạn đă “hiện diện” và “thúc đẩy” tri thức con người trước
khi con người bắt đầu biết cách đặt câu hỏi và cảm nhận chân trời vô hạn
này. Nhưng làm sống trong thế giới và bị giới hạn bởi lịch sử tính con
người lại có thể “cảm nhận” đưọc mầu nhiệm Tối Cao? Thần học gia Rahner cho
rằng qua chân trời vô hạn của tri thức và tự do, con người cũng là một linh
thể hữu hạn (finite spirit), và có khả năng “lắng nghe” và “thấu đạt”
sự mặc khải của Thiên Chúa. (31) Con người sẽ cảm nghiệm nó như một “món
quà” vô điều kiện: Thiên Chúa đă tự hiến ḿnh để đến cùng chung sống với
loài người. Khi tiếp nhận “món quà” này như là sự hiện diện của Thiên Chúa,
con người sẽ cảm nhận được sự mặc khải và sẳn sàng t́m hiểu ư nghĩa của mầu
nhiệm nhập thể cùng trong lịch sử con người.
-
- Một số
thần học gia khác như Schillebeeckx th́ cho rằng mặc dù chân trời tri thức
của con người là vô hạn, nhưng không có bảo đảm về “nội dung” của sự mặc
khải Thiên Chúa trong cảm nghiệm của con người. Nói cách khác, là linh thể
hửu hạn và có khả năng t́m kiếm mầu nhiệm vô hạn, nhưng sự mặc khải của
Thiên Chúa cũng có thể trái ngược với những mong chờ và ước vọng của con
người. Trong khi đi t́m Thiên Chúa qua t́nh yêu và sự tự do, th́ con người
cũng nên để ư đến sự hiện diện của Ngài qua những kinh nghiệm đa đoan hay
cảm nghiệm tiêu cực (negative experience). Những bài học về đau khổ
hay thất bại trong quá khứ cho thấy là chân trời tri thức và sự tự do của
con người không đơn thuần và vô tư như ta tưởng, nhưng luôn lẫn lộn với
những ư thức hệ và ước vọng bạo hành khác. Con người phải tin là chỉ có
Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ trần gian, cuối cùng sẽ thoả măn mọi ước vọng và
khác khao sâu sa nhất của loài người. Trong niềm tin đó, người tín hữu nên
t́m cách giảm bớt đau khổ và góp tay xây đựng một xă hội công b́nh và bác ái
hơn. Do đó, con người vẫn có thể “cảm nghiệm” Thiên Chúa, tuy nhiên, lịch
sử của đau khổ và kinh nghiệm tiêu cực trong cuộc sống sẽ là “dấu chỉ” dẫn
đưa con người t́m đúng hướng để đến với Thiên Chúa. (32)
-
-
- III. So Sánh
Hai Lối Dùng Ngôn Ngữ Tôn Giáo
-
- Khi so
sánh hai loại ngôn ngữ về Thiên Chúa trong tiếng Việt và thần học Tây
Phương, chúng ta sẽ có dịp sơ lược qua những “cách dùng” ngôn ngữ tôn giáo
trong hai nền văn hóa khác nhau. Đây cũng là những “qui luật” mà có thể
dùng để xác định cá tính tôn giáo và đạo đức của mỗi hoàn cảnh văn hóa trong
tiến tŕnh hội nhập.
-
- Tác năng của
“Trời” trong tiếng Việt
-
- Khái
niệm “Trời” rất là phong phú về nội dung qua tục ngữ ca dao, văn chương và
văn hóa Việt Nam. Khái niệm này đă đâm rễ sâu trong tâm hồn và huyết mạch
của người Việt, nói lên tinh thần tham thông với siêu nhiên và bản tính tín
ngưỡng của dân tộc Việt. Nguyễn Đăng Thục đă nhận định ba ư nghĩa chính của
chữ Trời trong tiếng Việt sau đây: (33)
-
- a) Vật lư:
Trời chỉ là những hiện tượng thiên nhiên, cụ thể, hữu h́nh bao gồm vạn vật.
-
- b) Tâm lư:
Trời như là một ngôi vị có ư chí thưởng phạt (Tạo hóa, Ông Xanh); hoặc là
một thế lực thiện, che chở bảo vệ chúng sinh, nuôi dưỡng vạn vật, để cho
nhân loại nương tựa vào đấy mà sống c̣n, kính sợ, làm lành lánh dữ. Khi dân
quá đau khổ th́ lại than thân trách phận, cho rằng Trời thiên vị bất công.
-
- c) Khách
quan: Trời là tiếng nói của “lẽ phải” như là một
đạo lư đại đồng (collective wisdom), bảo tồn trật tự của nhân sinh và vũ
trụ. Đạo Trời đồng nhất với bản tính thiên nhiên của chúng sinh và nhân
loại, vượt qua giới hạn của tính chất sinh lư hay tâm lư di truyền của huyết
thống, “Cha mẹ sinh con, Trời sinh tánh.” Đây là quan niệm về Trời vừa hữu
h́nh vật chất (physical) vừa siêu h́nh luân lư (moral) đă có sẳn trong tục
ngữ phong dao của người Việt trước khi chịu ảnh hưởng của văn hoá Hoa và Ấn.
-
- Linh
Mục Leopold Cadiere, một nhà nhân chủng học và truyền giáo sau 50 năm tại
Việt Nam đă đưa ra những nhậnh xét rất tinh túy về bản tính tôn giáo và khái
niệm “Trời” trong văn hóa Việt:
-
- “H́nh như
những ư nghĩa chính chúng ta thấy gán cho Trời thuộc về cái vốn Triết học
riêng của dân tộc Việt, v́ ư niệm Trời đă ăn sâu vào trong tâm hồn dân
Việt. Trời coi như nguyên lư hiện tượng và nhân cách hóa; Trời coi như một
Đấng toàn năng ảnh hưởng vào vận mệnh của loài người. Cái ư nghĩa Đấng Toàn
Năng đă được trau dồi phát triển với ảnh hưởng các tư tưởng Trung Hoa, nhưng
ngay từ thời khởi thủy trong ư thức Việt Nam đă có sẵn mầm mống của ư niệm
ấy rồi. Cái ư niệm ấy đă thấm nhuần quá sâu vào tâm hồn người Việt, và đă
biểu hiệu quá phổ thông trong ngôn ngữ b́nh dân để cho người ta có thể nh́n
thấy ở đây không chỉ là cống hiến ngoại lai.” (34)
-
- Nói
chung, khái niệm “Trời” trong tiếng Việt chưa bị chi phối bởi những phạm trù
tri thức về thời gian và không gian như trong khái niệm “Deus.” “Ông Trời”
không phải là một Đấng Tuyệt đối vô hạn và hoàn toàn biệt lập với con người
và vũ trụ, để từ đó con người phải trở về và t́m cách phối hợp như trong
triết thần Tây Phương. Cơi địa đàng và cơi thiên đàng chưa bị phân chia như
trong Sách Sáng Thế, nhưng cả hai vẫn hiện diện song song với nhau, với con
người là trung tâm của mọi sự: “thiên thời, địa lợi, nhân ḥa.” Ông bà tổ
tiên vẫn “sống” bên cạnh để trông nom và phù hộ cho con cháu. Người quá cố
vẫn về “báo mộng” hoặc nhờ kẻ sống giúp giải oan. Bất cứ một địa thế nào,
như một gốc cây cổ thụ hay vực sông, một ngọn núi cao hay một gốc âm-u, đều
là cơ sở của thần linh. Sống trong tín ngưỡng và thế giới thần linh đó,
người Việt được thúc đẩy đi cúng vái, tôn thờ thần thánh mọi nơi mọi chốn,
v́ tất cả cũng từ thần thánh mà ra. Do đó, sự hiện diện của “Trời” không
cần phải minh chứng hay biện hộ qua lư trí v́ đă có sẳn trong trực giác và
cảm nhận trong cuộc sống hằng ngày.
-
- Tác năng của
“Deus” trong triết thần Tây Phương
-
- Người
Tây Phương không dùng ngôn ngữ trực giác như khi người Việt nói về “Trời,”
nhưng họ cũng không thể thinh lặng hay giữ một thái độ vô tri về sự mặc khải
của Thiên Chúa trong lịch sử. Bốn mô thức ngôn ngữ sau đây: Bản Thể tối
cao, Nguyên Nhân của vũ trụ, Nền Tảng của luân lư, Giới Hạn của cảm nghiệm,
đều là những khái niệm đến từ suy luận và cảm nghiệm của con người. Đây là
những ngôn từ được vay mượn từ các phạm trù triết học: “bản thể” từ
“substance” trong triết Hy Lạp, “nguyên nhân” từ “causality” trong triết
kinh viện, “nền tảng” từ “foundation” trong tri thức luận, “giới hạn” từ
“limit” trong hiện tượng học và hiện sinh học. Thiên Chúa được diễn tả như
“điều kiện ắt có” để thế giới này có thật, hoặc để những khác vọng tri thức
sâu sa nhất của con người được toàn măn. V́ người Tây Phương đă giới hạn
“thực tại” là những ǵ thuộc về thời gian và không gian, nên họ phải vận
động mọi khả năng của tri thức và cảm nghiệm để giải thích cho những ǵ
thuộc về “thần linh” mà trong đó, mầu nhiệm “Deus” đă xâm nhập vào thế giới
và ngôn ngữ con người, làm cho con người băn khoăn và khắc khoải, thúc đẩy
mọi thế hệ phải t́m cách giải thích cho thỏa đáng hơn.
-
- Ngôn
ngữ về “Deus” do đó không phải là ngôn ngữ của một người đang sống trong một
môi trường quen thuộc như chữ “Trời” trong tiếng Việt, nhưng là ngôn ngữ của
một người đang đi t́m “Nước Trời,” và phải nói về mục tiêu, nguyên nhân,
hướng đi, ước vọng, luân lư, v..v..., để tự nhắc nhở về sự hiện diện của
Đấng Vô H́nh trên bước đường lữ thứ. Người Việt có thể dùng cùng một chữ
“Trời” lẫn lộn trong cả ba ư nghĩa thiên nhiên, nhân cách hóa và luân lư đại
đồng khách quan một cách dễ dàng. Nhưng đối với người Tây Phương, chữ
“Deus” chỉ có một ư nghĩa duy nhất, đó là Đấng Tuyệt Đối hay Mầu nhiệm Tối
Cao đáng cho mọi tạo vật cung kính và tôn thờ, và bên cạnh đó không có ǵ
khác có thể so sánh được. Nội dung của từ ngữ “Trời” đến từ trực giác và
cảm nghiệm trong cuộc sống hằng ngày. Trái lại, nội dung của từ ngữ “Deus”
đến từ những khái niệm tuy “có thật” nhưng không thể đối chiếu nó với bất cứ
một thực thể nào trong thế giới. Do đó, triết thần Tây Phương phải luôn
thao thức, t́m cách diễn đạt sự “có thật” của Thiên Chúa qua mọi phạm trừ
tri thức, cảm nghiệm, đời sống luân lư, hay ước vọng khắc khoải nhất của con
người.
-
- Khi so
sánh hai quan niệm khác nhau về Thiên Chúa của Việt Nam và Tây Phương trên
đây, học giả Nguyễn Đăng Thục đă đưa đến một nhận xét sau đây:
-
- “Giữa một
bên là quan niệm về Thượng Đế để cho cá nhân cầu t́m phối hợp, và một bên
tin tưởng vạn vật nhất thể đễ cho cá nhân có sự khác nhau căn bản... Nhưng
có quan niệm về Thượng Đế c̣n phải tín ngưỡng vào Thượng Đế nghĩa là Sống
cái quan niệm ấy khiến cho h́nh ảnh Ngài luôn luôn hiện diện trong tâm hồn
tôi, làm động cơ cho tất cả ư nghĩa và hành động của tôi. Đây là mục đích
cầu t́m phối hợp cá nhân với Thượng Đế, tức là t́m cái “tái đáo Thiên Thai,”
trở lại cái tâm trạng hồn nhiên của cái cảnh “le paradis perdu” thủa
trước... Tóm lại, một đàng có quan niệm về Thượng Đế v́ đă mất h́nh ảnh đồng
nhất thể nguyên thủy, tách lư trí với tín ngưỡng ra làm hai, lư với t́nh trở
nên mâu thuẫn, đễ lại nối lại, c̣n một đàng cố giữ lấy cái kinh nghiệm thuần
túy, cái đồng tâm nhất thể ấy trên con đường thực hiện ư thức biện chứng
trực giác... Đây là tâm trạng của hai nữa nhân loại, một đàng mất Mẹ đi
t́m, một đàng vẫn giữ lấy Mẹ để trưởng thành trong ḷng Mẹ, không dời một
bước. (35)
-
-
- Kết: Thử
Thách Hiện Tại
-
- Bài
tiểu luận này được đặt trên một giả thuyết cho rằng, tôn giáo hay văn hóa
cũng đều là những môi trường ngôn ngữ, nhưng khác nhau ở “cách dùng” ngôn
ngữ trong mỗi môi trường. Những “qui luật” hiểu ngầm này sẽ xác định bản
chất tôn giáo cho mỗi hoàn cảnh văn hóa khác nhau (Wittgenstein).
(36) Sau khi so sánh ư nghĩa và tác năng khác nhau giữa hai từ ngữ “Trời”
và “Deus” trên đây, chúng ta nhận thấy tiến tŕnh hội nhập văn hóa không chỉ
là việc trao đổi giữa “bản chất” Kitô giáo với “h́nh thức” văn hóa Việt Nam,
nhưng trước tiên là sự gặp gỡ hay hội ngộ của hai cách dùng ngôn ngữ tôn
giáo khác nhau. Sự gặp gỡ này có thể là một va chạm, gia nhập hay hội nhập,
nhưng tất cả đều xảy ra trong một bối cảnh văn hóa linh động mà chúng ta gọi
là “truyền giáo.” Trong bối cảnh văn hóa này, một loại ngôn ngữ tôn giáo
mới cũng bắt đầu thành h́nh, và qui luật điều khiển “cách dùng” ngôn ngữ tôn
giáo đó cũng từ từ được chấp nhận như là điều hiển nhiên. Do đó, khi Cha
Đắc Lộ dùng cụm từ “Đức Chúa Trời” để nói về “Deus,” người Việt Nam không
c̣n bỡ ngỡ nữa. Trái lại, họ cũng hiểu rằng có một cái ǵ khác biệt giữa
cách dùng chữ “trời” hay “ông Trời” quen thuộc xưa nay trong tiếng Việt với
cụm từ mới này. Từ đó, Cha Đắc Lộ mới có thể khai triển thêm những khái
niệm khác về nguồn gốc của vũ trụ và con người, mục tiêu và ư nghĩa của cuộc
sống thế nhân, lịch sử của mặc khải và ơn cứu độ, sự sống đời sau và sự phán
xét cuối cùng, v.v. (Phép Giảng Tám Ngày). Nói cách khác, môi trường ngôn
ngữ mới này là vùng đất mầu mỡ cho hạt giống Kitô giáo được trưởng thành và
trổ sinh một lối sống Kitô qua nhân sinh quan và vũ trụ quan của người Việt.
-
- Tuy
nhiên, văn hóa và ngôn ngữ không phải là một cái ǵ cố định nhưng sẽ tiếp
tục thay đổi theo hoàn cảnh kinh tế, xă hội, chính trị mà chúng ta đang sinh
sống. Đến một lúc nào đó, những giá trị đạo đức quen thuộc trước đây sẽ
không c̣n ư nghĩa ǵ với các thế hệ mới nữa. Trách nhiệm hội nhập do đó
không chỉ là vấn đề bảo tŕ văn hóa hay tiếng Việt, mà phải c̣n t́m cách
phát huy và sáng tạo nên những “môi trường ngôn ngữ” thuận lợi khác để Lời
Chúa không bị giới hạn v́ những dị biệt của thế hệ và ư thức hệ. Khó mà
dùng giá trị đạo đức hay tŕnh độ tôn giáo của nhóm này để phán đoán hay
đánh giá cho đời sống đạo của nhóm kia được. Bất cứ nhóm hay tập thể xă hội
nào cũng đều có những ngôn ngữ về đạo đức riêng biệt. Không thuộc các kinh
cầu ngày Chủ Nhật không có nghĩa là thiếu đức tin, hay không tham dự linh
thao cũng không có nghĩa là không biết cách sống đạo. Người Công Giáo tại
hải ngoại đang chứng kiến một cuộc tiến hóa về cách dùng ngôn ngữ tôn giáo
và đức tin ngay trong mỗi cộng đoàn. Thử thách của chúng ta hiện nay là
phải hiểu “cách dùng” ngôn ngữ tôn giáo đang tiến hóa và thành h́nh như thế
nào trong mỗi môi trường khác nhau, và từ đó mới có thể đi đến một sự đối
thoại. Chúng ta cần phải tạo ra những “môi trường” mới để ngôn ngữ của
Thánh Kinh, truyền thống của giáo hội, kinh nghiệm của người lớn tuổi và cảm
nghiệm của tuổi trẻ được gặp gỡ nhau. Từ đó các qui luật “hiểu ngầm” về giá
trị đạo đức và tôn giáo khác nhau được trao đổi, giúp cho đời sống đức tin
của cộng đoàn được sống động hơn. Do đó, hội nhập văn hóa không chỉ xảy ra
ở xứ truyền giáo, nhưng trong tất cả mọi hoàn cảnh mà Lời Chúa đang t́m môi
trường thuận tiện để nẫy mầm và sinh trưởng. Để kết thúc, xin mượn lời của
Giáo Sư Bùi Hữu Thư về vai tṛ của ngôn ngữ trong tiến tŕnh phát triển giáo
lư và phát huy đức tin sau đây:
-
- ”Hội
nhập văn hóa của đức tin là một trách vụ về ngôn ngữ. Điều này có nghĩa là
giáo lư tôn trọng và quư chuộng ngôn ngữ thích hợp cho sứ điệp, nhất là ngôn
ngữ của Thánh Kinh, cũng như ngôn ngữ lịch sử và truyền thống của Giáo Hội
(tín lư, phụng vụ) và ngôn ngữ học thuyết (các sự h́nh thành học thuyết).
Giáo lư cũng cần đối thoại với các h́nh thái và ngôn ngữ thích nghi cho nền
văn hóa đối tượng. Cuối cùng giáo lư phải thúc đẩy những lối diễn tả mới
của Phúc Âm trong văn hóa được vun trồng. Trong thể thức hội nhập văn hóa
Phúc Âm, giáo lư không được sợ sệt trong việc dùng các công thức truyền
thống và ngôn ngữ kỷ thuật của đức tin, mà phải diễn tả ư nghĩa và chứng
minh sự hiện hữu của giáo lư. Cũng vậy, phận sự của giáo lư cũng là ‘dùng
tiếng nói của học sinh, các nhà trí thức và khoa học gia, ngôn ngữ của những
người thất học hay thuộc về những văn hóa thô sơ; ngôn ngữ của người tàn
tật, v.v.’” (37)
-
|