Home T́m Ca Dao Diễn Đàn T́m Dân Ca Phổ Nhạc T́m Câu Đố T́m Chợ Quê Góp Ư Toàn Bộ Danh Mục e-Cadao English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
 
Ẩm Thực
Cảm Nghĩ
Chợ Quê
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Liên Mạng Thành Viên
Trang Chủ
Hồng Vũ Lan Nhi 1 & 2
Phong Thủy HKH
 

 
 

 

 
 
 
Ca Dao Dân Ca Nam Kỳ Lục Tỉnh từ 101 - 200
 
101 . Rèn ḷng vàng đá tri tri,
Dầu ai thay bạc đổi ch́ mặc ai.
102. Trăm trăm ai chớ bỏ ai,
Chỉ thêu nên phụng, sắt mài nên kim.
103. Tay cầm cái kéo cây kim,
Vai mang đượng lụa đi t́m thợ may. (1)
(1) Đường lụa: 10 thước (ta) lụa. Đường là đơn vị "thước đo" vải, lụa
104. Bốn mùa hoa cúc nở xây,
Để cho trời định duyên này về đâu.
105. Niềm tây những mảng lo âu,
Vẳng nghe trống điểm trên lầu trở canh.
106. Giả đ̣ mua khế bán chanh,
Giả đi đ̣i nợ thăm anh kẻo buồn.
107. Đại vi đài vi các, tiểu vi đống vi lương, (2)
Anh chẳng tham rộng ruộng lớn vườn,
Tham v́ nhơn ngăi, cũng thường mà thôi.
(2) Ư: Lớn làm lầu làm đài, nhỏ làm cột làm kèo.
108. Trắng da v́ bởi phấn giồi,
Đen da v́ bởi em ngồi chợ trưa.
109. Trắng da là đĩ anh ôi!
Đen da thật vợ ở đời với anh.
110. Trăm năm thành lở, anh bồi thành,
Giậu nghiêng anh sửa, giậu bôn hành tại em.
 
111. Có trăng nên mới phụ đèn,
Đặng nơi sang trượng (trọng), phụ phàng nghĩa xưa.
112. C̣n duyên kẻ đón người đưa,
Hết duyên đi sớm về khuya một ḿnh.
113. Bao giờ cho mơ xa đ́nh,
Hạc xa hương án chung t́nh mới xa.
114. Bậu nói với qua bậu không lang chạ,
Qua bắt đặng bậu rồi, đành dạ bậu chưa.
115. Chanh chua th́ khế cũng chua,
Chanh bán có mùa, khế bán tư niên,
116. No nao gặp chốn sĩ hiền, (1)
Vầy duyên kết bạn kẻo phiền mày châu.
(1) No nao: Chừng nào, phải chi...
117. Đi đâu bỏ quạt loan châu,
Bỏ thương bỏ nhớ bỏ sầu cho em.
118. ở đời chi tết bằng sen,
Quan yêu dân chuộng ră bèn cũng hư. (2)
(2) Bèn: cánh hoa; ră bèn: cánh hoa héo khô rụng rơi khỏi đài hoa.
119. Ngó lên đàng tóc em rẽ tư,
Tại bụng em từ chẳng phải tại anh.
120. Thân em như thể trái chanh,
Lắc lẻo trên nhành nhiều kẻ ước mơ.
 
121 . Anh ngồi thuyền ngự cao cờ, (1)
Xin anh đoái thiếp đặng nhờ tấm thân.
(1) Thuyền ngự. thuyền vua ở đây chỉ địa vị sang cả.
122. Thân em như lọn nhân trần,
Mẹ cha chẳng có muôn phần cậy anh.
123. Ví dầu chỉ thoắng tơ mành,
Khéo câu th́ đặng cá ḱnh biển đông.
124. Ngó ra ngoài biển minh mông,
Thấy chiếc thuyền rồng cất mái chèo đua.
125. Hăy cho bền chí câu cua,
Dấu ai câu trạnh câu rùa mặc ai. (2)
(2) Trạnh: Rùa biển
126. Riêng than đất rộng trời dài,
Thà cho ai phụ phụ ai bao đành.
127. Lương duyên do túc đế,
Giai ngẫu tự thiên thành. (3)
V́ con trăng kia chỉ rối tơ mành,
Chẳng nên chồng vợ, cũng thành đệ huynh.
(3) Duyên lành do có cội gốc trước, chuyện đôi lứa là do trời định nên128. Nhựt nguyệt tuy minh,
Nan chiếu phúc bồn chi hạ. (4)
Đâu biết em c̣n một dạ như xưa.
(4) Mặt trời mặt trăng tuy sáng, nhưng không chiếu sáng được cái ḷng chậu úp.
129. Bậu có chồng chưa bậu thưa cho thiệt,
Kẻo để anh lầm tội nghiệp ớ em.
130. Bậu với qua duyên đà thậm bén,
Biết cha mẹ nàng chọn kén nơi nao.
 
131. Cam sành dă dượi bờ ao,
Tưởng không anh hái có rào th́ thôi.
132. Cam sành chê đắng chê hôi,
Hồng rim chê lạt, cháo bồi khen ngon.
1 33. Cục đá lăn nghiêng lăn ngửa,
Khen ai khéo sửa, cục đá lăn tṛn,
Giận th́ anh nói vậy, dạ c̣n thương nhau.
134. Ra về trăng đă đứng đầu,
Vắng nghe chó sủa, trên lầu điểm ba.
1 35. Mười phần thương mẹ ở nhà,
Chín phần thương bậu c̣n là ngây thơ.
136. Cùng nhau kết tóc xe tơ,
Trăm năm thiếp cũng đợi chờ mà thôi.
137. Ô hô b́nh tích bể rồi,
Chén chung lỡ bộ, bậu ngồi sao yên.
138. Cu cu mà đỗ cửa quyền,
Lấy chồng chưa măn ba niên lại về.
139. Anh ngồi trước mũi ghe lê, (1)
Chớ chi em đặng ngồi kề một bên.
(1) Ghe lê: Thuyền chuyên dùng cho việc quân, chuyên chở binh lính, chiến vụ
140. Anh mong chuốt ná lau tên,
Nhạn đậu chẳng bền công uổng danh hư.
 
141. Chẳng chèo th́ bỉ trượng phu,
Chèo th́ gây oán gây thù cho em.
- Đấng trượng phu đừng thù mới đáng,
Đấng anh hùng đừng oán mới nên.
142. Xa xuôi chẳng đặng cần quờn,
Dễ đây với đó giận hờn chi nhau.
143. Thôi thôi quần tía xuống màu,
Dây lưng mua chịu khoe giàu với ai.
144. Bậu buôn bán nuôi đi,
Dầm sương phản mại,
Bậu buôn bán nuôi mẹ già, nào nại tấc công.
145. Châu sa nước mắt ṛng ṛng,
Thấu thiên thấu địa, thấu ḷng em chăng:
Ra đi anh có dặn rằng:
Nơi hơn em lấy, nơi bằng đợi anh.
147. Tay phản tay bao nỡ,
Ruột cắt ruột bao đành.
Lời thề nước biếc non xanh,
Anh ở sao cho trọn đạo quần thần,
Th́ em mới dám trao thân gởi ḿnh.
148. Ví dầu t́nh chẳng đoái t́nh,
Nhành trâm kia găy th́ b́nh nọ rơi.
149. Cố hương chàng đă phản hồi,
Em về thành nội ngùi ngùi nhớ thương.
150. Thương hỡi thương,
Gươm trường anh chẳng sợ,
Nhọn như giáo ba ngù căn nợ phải theo.
 
151. Anh ngồi phần thủ trống treo, (1)
Miệng kêu ghe ghé, chơn trèo xuống thang.
(1) Phần thủ: Vơ làng (thường đọc là "Dỏ") đặt dọc sông để canh gác.
152. Trách ai vội thác suối vàng,
Ngăi nhơn trôi hết thiếp chàng xa nhau.
153. Lưu ly nửa nước nửa dầu, (2)
Nỗi lo phận bạc, nỗi sầu duyên đơn.
(2) Lưu ly: thủy tinh. Có lẽ ở đây nói về sự sóng sánh, lấp loáng, ánh lên như thủy tinh được chiếu sáng.
154. Ham chơi bỗng đứt dây đờn,
Anh thất ngôn một chút, con bạn hờn trăm năm.
155. Đă mang nhơn ngỡi vào ḿnh,
Bỏ đi th́ tiếc công tŕnh xưa nay.
156 Đă nguyền hai chữ đồng tâm,
Càng dày nghĩa trước càng thâm ân t́nh.
157. Chuối cậy ḿnh chuối đồng trinh,
Chuối ở một ḿnh sao chuối có con.
158. Ngó lên mây trắng trăng tṛn,
Qua đây bậu đó bậu c̣n khen chê.
1 59. Ba phen lên ngựa mà về ,
Cầm cương kéo lại xin đề câu thơ.
Câu thơ có bốn câu thơ,
Câu đợi câu chờ, câu nhớ, câu thương.
160. Tới đây bợ ngợ giữa đường,
Muốn phân nhân ngăi ngỡ ngàng khó phân.
 
161. Thương cha thương mẹ có phần,
Thương em chín lượng mười phần có dư.
162. C̣n duyên nón gu quai tơ,
Hết duyên nón xoáy quai dừa cũng xong. (1)
(1) Nón cụ (hoặc nón cậu): Nón lớn mà bằng mô (không có chỏm nhọn); nón xoáy: nón bằng đầu mà nhỏ, đàn bà nghèo hay đội (Theo Đại Nam quốc âm tự vị - ĐNQATV)
163. C̣n duyên đóng cửa kén chồng,
Hết duyên bán quán ngồi trông bộ hành.
164. Chẳng qua duyên nợ trời sanh,
Tham v́ nhơn nghĩa lợi danh thẳng màng.
165. Sáng trăng trải chiếu hai hàng,
Cho anh đọc sách cho nàng quay tơ.
Quay tơ th́ giữ mối tơ,
Dầu năm bảy mối cũng chờ mối yêu.
166. Bậu thấy qua điếc lác có một hai chút tác bậu hiền,
Một vảy một tiền nhằm lác mười quan.
167. Thủ Thiêm, Thủ Đức, Bến Lúc, Thủ Đoàn,
Anh phải ḷng nàng tại Thủ Chiến Sai. (2)
(2) Thủ Chiến Sai. Một đồn canh xưa, ở phía tây sông Trà Thôn - bờ phía Nam sông Tiền Giang thông với sông ông Chưởng (Theo Gia Định thành thông chí. Tập Thượng, trang 86).
168. Trời sinh cây cứng lá dai,
Gió lay mặc gió, ch́u ai không ch́u.
169. Nhứt ngôn thuyết quá,
Tứ mă nan truy, (1)
Ra đi c̣n dằm, rồng nằm thấy dạng,
Em nỡ bụng nào đành đoạn bỏ anh.
(1) Một câu nói ra, ngựa hay không theo kịp.
170. Văn kỳ thanh bất kiến kỳ h́nh, (2)
Mặt chưa thấy mặt mà t́nh đă thương.
(2) Nghe tiếng tăm mà chưa được gặp.
 
171. Giă chàng cho thiếp hồi hương,
Kẻo cha mẹ thiếp trăm đường ai bi.
172. Bằng lăng quai màu, nón chấu, chéo dà,
Thân anh lao khổ em đà thấy chưa.
173. Chim bay về núi An Chi,
Mến cây mến rễ mà đi sao đành.
174. Rượu ngon bất luận ve sành,
Rách mà khéo vá hơn lành vụng may.
175. Rộng đồng mặc sức chim bay,
Biển hồ lai láng cá bầy đua bơi.
176. Bao giờ cho đặng thảnh thơi,
Tay bưng chén cúc, miệng mời phu nhân.
177. Linh đinh chiếc bá giữa ḍng,
Sóng xao gió tạt biết từng về đâu.
178. Chim loan, chim phụng đi đâu,
Để .cho chim cú đỗ đầu nhành mai.
179. Anh tưởng giếng sâu anh nối sợi dây dài
Hay đâu giếng cạn anh tiếc hoài sợi dây.
180. Ngó lên tổ nễ chau mày, (1)
Mảnh lo sự khó quên ngày muối dưa.
(1) Tổ nễ: Tiếng tôn xưng ông bà, tổ tiên.
 
181. Con đ̣ bậu chớ nghi ngờ,
Bậu đưa khách bậu qua chờ bạn qua.
182. Đại mộc lưu giang, bất đắc hồi cố.
Cây cả trôi sông không mong trở lại,
Một mai anh có xa nàng, thiên số sử nhiên.
183. Đất láng quyên tự nhiên cỏ mọc,
Anh mảng lo nghèo bạn ngọc có đôi.
Biết thuở nào cho vầy bạn ngọc,
Kẻo đêm nằm trằn trọc gối loan.
184. Chim kêu vượn hú đa đoan,
Đồng hồ nhặt thúc anh toan lẽ nào.
185. Mảng coi ong bướm vườn đào,
Mảng coi lê lựu quên chào bạn xưa.
186. Đàng xa nhơn ngăi nào xa,
Đi đâu anh cũng ghé nhà,
Trước thăm phụ mẫu sau là viếng em.
187. Bao giờ đá nổi vông ch́m,
Muối chua chanh mặn mới t́m đặng em.
188. Làm trai gái trọn ba giềng,
Thảo cha, ngay chúa, vợ hiền chớ vong.
189. Chịu oan một tiếng có chồng,
Vắng vẻ loan pḥng có cũng như không.
190. Chim quyên ăn trái nhăn lồng,
Cá thia quen chậu, vợ chồng quen hơi.
 
191. Nói ra sợ chị em cười,
Thân tôi ở góa đă mười mặt con.
Tưởng là yếm đỏ c̣n son,
Ai hay yếm đỏ có con một bầy.
192. Tưởng là yếm đỏ c̣n son,
Ai hay yếm đỏ có con một bầy.
193. Ví dầu bậu đó qua đây,
Chẳng cho qua lại một giây giải buồn.
194. Trăng rằm mười sáu đúc chuông,
Ai cầm con nguyệt th́ buông nó về.
195. Dầu ai lạc Sở qua Tề,
Trăm năm anh cũng lộn về cùng em.
196. Bán buôn nuôi bạn trọn niềm,
Chừng nào trăng khuyết lưỡi liềm sẽ hay.
197. Kiểng vật c̣n đây người trồng đâu mất,
Bạn ngọc xa rồi gia thất ai coi.
198. Nhạn về biển bắc nhạn ôi,
Bao thuở nhạn hồi kẻo kẻ đợi trông.
199. Phải chi em vác nổi cây súng đồng,
Em ra đi lính thế cho chồng một khi.
200. Vợ chồng là nghĩa phu thê,
Tay ấp má kề sanh tử có nhau.

 

 

Chấm vào các ô dưới đây để xem thêm phần kế tiếp

  1-100 101-200 201-300 301-400 401-500 501-600 601-700 701-800 801-900 901-952

 

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Kỹ Thuật Truy Tầm

Hoàng Vân

Sưu tầm Nhạc Dân Ca

Julia Nguyễn
Xin vui ḷng liên lạc với  Trang Chủ về tất cả những ǵ liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 05/04/14