| |
Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp
Nguyễn Cung Thông
24 tháng 08 năm 2006
(phần 1)
-
1. Giới thiệu tổng quát
-
- T́m hiểu
về gốc của tên mười hai con giáp là một cơ hội để ta t́m về cội nguồn
tiếng Việt. Tên 12 con giáp là Tư/Tử, Sửu, Dần, Măo/Mẹo, Th́n/Thần, Tỵ,
Ngọ, Mùi/Vị, Thân/Khôi, Dậu, Tuất, Hợi. Thoạt nh́n th́ thập nhị chi
trên có vẻ bắt nguồn từ Trung Quốc (hay Trung Hoa, tắt là TH) v́ là
những từ Hán Việt (HV).Khi phân tách các tiếng Việt, và thấy có những
khác lạ hay có một khuynh hướng tổng quát chung nào đó th́ những dạng
này cần được so sánh với những từ khác với nguồn gốc không phải là
Việt, Thí dụ như trong các từ liên hệ đến xe hơi chẳng hạn, ta thấy
các dạng như pan (xe bị pan), phanh (thắng), láp, két nước (tử két),
đèn pha, máy bơm xăng, ống bơm, xăng, ḥn (viên) bi, bị giơ (lỏng),
cái van, dây cáp (điện), dây xên, con vít, sạc điện …v…v... không kể
các từ đa âm khác như bugi, táp-lô, rô-đa, mỏ-lét, rờ-le, bù-loong …
So với tiếng Pháp và tiếng Anh hiện nay (không khác ǵ nhiều trong
ṿng trăm năm nay)
-
-
Tiếng Việt Pháp
Anh
-
-
Pan panne (bị hư)
out of order
-
Pha
phare (đèn trước) headlight
-
Bi bille (viên đạn)
ball
-
Giơ
jeu (lỏng) loose, worn out
-
Sạc
charge (thêm điện cho đủ) charge
-
Van
valve valve
-
Vít
vis screw
-
Két
caisse (tủ, b́nh chứa) tank
-
Cáp
cable (dây điện) cable
-
Xăng
essence gas, petrol
-
Bơm
pompe pump
-
…v…v…
-
- Rơ ràng
là các từ trên tương ứng với tiếng Pháp rất chặc chẽ so với tiếng Anh,
hay một ngoại ngữ nào khác - người viết dùng tiếng Anh và Pháp để so
sánh v́ lịch sử cận đại cho thấy nhiều liên quan giữa nước Pháp, nước
Mỹ với VN. Ngoài ra, kỹ thuật chế tạo, lắp ráp và bảo tŕ xe hơi (ô tô)
là từ các nước Âu Châu trên. Nếu mở rộng đề tài ra th́ ta có các tiếng
Pháp khác nhập vào tiếng Việt như bót/bốt (đồn cảnh sát), ông cẩm (commissaire),
nhà ga (trạm xe lửa), lô, kư (kilogramme), xạc (sacrer, bị mắng), cuốc
(xe cuốc, course, xe đua), cúp (coupe), cà-lem, kem (crème) ..v..v..
Phần lớn các từ mượn từ tiếng Pháp có phạm trù giới hạn và thường là
thuật ngữ. Cách viết văn (cú pháp) và thành lập chữ của bị ảnh hưởng
phần nào qua giao lưu văn hoá với Pháp : như cách dùng bàn giấy, giết
thời gian … Trong các bài sau, người viết sẽ chú trọng đến sự so sánh
các từ, các biến âm và phạm trù ngữ nghĩa của chúng. Giao lưu văn hoá
với Pháp xẩy ra chỉ gần đây (hai trăm năm trở lại và càng ngày càng ít
đi từ thời kỳ thuộc địa), thành ra các dạng biến âm rất dễ tra ra,
cũng như từ phạm trù nghĩa giới hạn của chúng. Trở lại với tên 12 con
giáp, thời kỳ giao lưu văn hoá với TH đă xẩy ra rất lâu (ít nhất đă
hơn hai ngàn năm, so với hai trăm năm) và từng đợt chất chồng lên nhau,
thêm vào đó là các tài liệu rất mơ hồ và thường hàm ư là tên 12 con
giáp là của TH (một tiền đề không ai dám tranh căi hay t́m ra ngọn
ngành một cách rơ ràng và khoa học). Các tài liệu lại thường viết bằng
chữ Hán, thêm và tiền đề (hầu như là một ‘công lư’ không ai chối căi
đuợc ?) về nguồn gốc TH hợp với cách viết chủ quan và đầy tự ái dân
tộc của một số tác giả TH càng làm vấn đề trở nên phức tạp hơn nữa.
Nh́n lại bảng so sánh một số tiếng Việt trong lănh vực kỹ thuật (xe
hơi) như trên, dù ai có tự ái dân tộc lớn đến đâu cũng không thể chối
căi quá tŕnh mượn từ tiếng Pháp vào tiếng Việt, thêm vào đó là các
tài liệu sách vở trong ṿng hai thế kỷ qua dễ cho chúng ta kiểm lại
kết luận này. Thực ra, sự vay mượn qua lại là một hiện tượng rất tự
nhiên của ngôn ngữ loài người, chính sự thuần nhất (pure) ngôn ngữ mới
là hiếm có hay là ngoại lệ ! Cũng như hiện tượng thuần chủng (pure
race) vậy – cũng chính cách nh́n hạn hẹp từ sự thuần chủng mà đă xẩy
ra bao nhiêu tai hoạ như Đức Quốc Xă với giống Aryen, chính sách White
Policy hay nước Úc cho ‘người da trắng’ chẳng hạn ….– và cũng chính
thái độ ù lỳ không chấp nhận ‘ḿnh vay của người’ mà nhiều sai lầm đă
xẩy ra, ngay cả cho một số công tŕnh nghiên cứu trong quá khứ. Tiếng
Nhật và tiếng Đại Hàn có nhiều từ gốc Hán, tiếng Anh/Pháp cũng đầy các
từ gốc La-Tinh, Hi-Lạp … chẳng nước nào có ‘mặc cảm chữ nghĩa’ đâu ?
Với các cảnh giác trên th́ ai là chủ nhân của tên 12 con giáp ?
-
-
2. Vài nhận xét sơ khởi về
tên 12 con giáp
-
-
2.1 Tên 12 con giáp đọc như
tiếng HV, theo giọng Bắc Kinh (BK) và bằng cách ghi theo Phiên Âm
(pinyin) là zĭ, chŏu, yín, măo, chén, ś, wǔ, wèi, shēn, yŏu, xū, hài
hoàn toàn không liên hệ đến cách gọi (tên) 12 con thú trong tiếng TH
hiện nay – ngay cả giọng Quảng Đông (QĐ) ..v..v.. Khi phục hồi âm TH
thời Thượng Cổ (Archaic Chinese) th́ vẫn không tương đồng với các cách
gọi tên thú vật thời trước. Như vậy nếu có một dân tộc nào đó dùng tên
12 con thú tương tự như tên 12 con giáp th́ dân tộc đó phải có liên hệ
rất khắn khít với nguồn gốc tên 12 con giáp này. Cũng như khi so sánh
các từ về xe hơi phần trên, ta có thể đi dến kết luận là tiếng Pháp đă
cho tiếng Việt mượn trong thời kỳ giao lưu văn hoá cận đại1.
Nhưng người viết không đi sâu thêm nữa để t́m hiểu các danh từ tiếng
Pháp trên có nguồn gốc ở đâu. Xin nhắc lại ở đây là các bài này viết
về nguồn gốc tên 12 con giáp, c̣n nguồn gốc 12 con giáp
ở đâu ra không nằm trong phạm vi các phần sau.
-
-
2.2 Tại sao TH dùng con thỏ
thay cho con mèo (biểu tượng của chi Măo/Mẹo) ? Xem cách viết chữ miêu
(con mèo, giọng BK là māo) bằng bộ trỉ hợp với miêu (mầm mống, hài
thanh) so với thỏ là chữ tượng h́nh – hay thố HV, giọng BK là tù viết
bằng bộ nhân cho thấy sự quan trọng của thỏ đối với văn hoá TH. Hầu
như chỉ có dân Việt mới dùng mèo cho chi Măo : nguyên âm e hay iê là
các dạng cổ hơn của a như kẻ/giả, vẽ/hoạ, xe/xa, khoe/khoa, hè/hạ, chè/trà,
keo/giao, beo/báo…. Nhờ sự khác biệt này mà ta bắt đầu thấy mối dây
liên hệ của tiếng Việt với 12 con giáp. Mèo hiện diện trong đời sống
dân Việt thường xuyên hơn. C̣n chi Ngọ liên hệ đến ngựa hầu như không
cần giải thích nhiều, so với mă HV (mă BK, giọng BK hiện nay không c̣n
âm ng- nữa mà đă bị môi hoá thành w- và m-). Các dạng Măo/Mẹo/mèo và
Ngọ/ngựa dễ cho ta nhận ra sự liên hệ giữa tên 12 con giáp với tiếng
Việt hiện nay. Thời tiền Hán, tiếng Việt ta không có nhiều thanh điệu
(tone) như bây giờ, nên sự khác biệt về thanh điệu không có ǵ lạ. Như
trong khẩu ngữ ta ta có cách dùng “chờ một tư” cũng như “chờ một chút”,
“đưa chút tiền” cũng như “đưa tư tiền” … vào thời tiền Hán, các câu
trên đọc như giọng Huế hay người Ḥn bây giờ (ít thanh điệu hơn so với
giọng Hà Nội) th́ ta thấy ngay chút hay *chụt/chuột chính là các dạng
của tư vậy. Biến âm t-ch (phụ âm đầu) của tư/tử HV -chuột c̣n thấy qua
các liên hệ như ty/tư HV là chủ, tỷ-chia, tứ-cho, từ-chữ, tự-chùa,
tỷ-chị, tựu-chầu (tụ lại), tốt-chết, từ-chợ, thị-chợ, thố-chua,
thù-chuốc, thục-chuộc, thúc-chú….Thành ra, ta có sơ khởi là ba chi Măo/Mẹo,
Ngọ và Tư có liên hệ với mèo, ngựa và chuột trong tiếng Việt hiện đại.
Các phần sau sẽ phân tách chi tiết hơn về sự tương quan giữa tên các
chi và các tên thú vật trong tiếng Việt.
-
2.3 Nếu quả thật tên 12 con
giáp TH bắt nguồn từ tiếng Việt (Cổ), th́ kết quả này c̣n phù hợp với
các kết quả trước đây như triết gia Kim Định đă cố gắng chứng minh văn
hoá TH xuất phát từ văn hoá Việt (SàiG̣n vào thập niên 1970, như cuốn
“Việt Lư Tố Nguyên”), tác giả Nguyễn Hoài Nhân (bên Pháp vào thập niên
1980, như trong các bộ “VietNam en image” ghi nhận các bằng chứng về
khảo cổ và ngôn ngữ để đi đến kết luận : người Việt Cổ là người cho,
người TH là người nhận), tác giả Lê Mạnh Thát qua cuốn “Lịch Sử Âm
Nhạc Việt Nam - từ thời Hùng Vương đến thời kỳ Lư Nam Đế” đưa ra các
dữ kiện chứng tỏ rằng Việt Ca (Lưu Hướng ghi lại trong Thuyết Uyển) có
nguồn gốc Việt Nam (VN), tác giả Nguyễn Thiếu Dũng cũng bắt đầu đặt
lại vấn đề nguồn gốc Kinh Dịch (từ tộc Việt) trong những năm gần đây …
Cho thấy chiều vay mượn là từ phương Nam vào thời thượng cổ,
chứ không phải là từ Bắc xuống Nam (cũng như các nước chung quanh) vào
các đời Hán, Đường lúc văn hoá TH cực thịnh,. Tuy nhiên không tác giả
nào đề cập đến nguồn gốc tên 12 con giáp, và rất ít dùng cấu trúc của
chữ Hán, Hán Cổ cùng các biến âm trong cách lư giải.
-
Để thấy rơ hơn các liên hệ
của tên thú vật và tàn tích trong tiếng Hán Cổ, chúng ta hăy xem một
số từ chỉ con vật thông thường như cóc, voi … và cấu trúc của tiếng
Hán cho thấy tàn tích của tiếng Việt mà đă từ từ mất đi trong ngôn ngữ
TH hiện nay. Hi vọng từ đó khi tập trung nh́n vào các tương quan của
tên 12 con giáp th́ các liên hệ sẽ được rơ ràng hơn, nhất là qua sự so
sánh các ngôn ngữ láng giềng với tiếng TH, HV, tiếng Việt.
-
-
2.4 Muốn t́m hiểu ngọn
ngành trên phương diện so sánh các ngôn ngữ, ngày nay ta không đến nỗi
phải đi tới những nơi xa xôi (du học) nữa, nhất là về đề tài 12 con
giáp. Các tài liệu thông tin, mạng Internet, sách vở được ấn hành
nhiều hơn và cởi mở hơn. Thêm vào đó là chánh phủ địa phương có vẻ như
càng ngày càng mở mang và thành thật hơn, không độc đoán và che dấu
hay ‘bóp méo’ các dữ kiện khảo cổ, ngôn ngữ như xưa. Cách đây hơn 50
năm, Phan Khôi - một nhà nghiên cứu văn hoá VN rất nhiệt thành – đă
phải lên tiếng “… người VN chúng ta về sau phải sang TH ở lâu mà
nghiên cứu, may ra t́m được các dấu vết tương quan của dân tộc ta với
dân tộc TH từ đời thượng cổ…” (trang 34, “Việt Ngữ nghiên cứu” Phan
Khôi, bài viết năm 1954, in lại – NXB Đà Nẵng, 1997). Đương nhiên là
các kết quả của so sánh ngôn ngữ phải phù hợp với những kết quả từ
ngành khảo cổ, lịch sử và di truyền (DNA)… để tăng mức độ chính xác.
-
-
3. Tiếng Việt và tiếng Hán
Cổ (hay
tiếng Hán và tiếng Việt Cổ)
-
-
3.1
Cóc
là loài vật vừa ở trên cạn vừa ở dưới nước (gọi là amphibian) hiện
diện trong các ngôn ngữ Đông Nam Á như ku-óc, cóc (tiếng Mường), ka
kọc (Nùng), róc (Lào : lụt róc, kăn kắk, khăn khắk : cóc), khàng khók
(Thái), king kuok (Khme), a-rok (Chàm), kok, kokke, khog (Mundari,
Birhor, Hor…ngữ hệ Munda), cơưk (Hmong) ..v..v.. Trong vốn từ TH hiên
nay, c̣n một chữ rất hiếm là
cúc
HV viết bằng bộ trùng hợp với chữ cúc hài thanh (HT, cúc nghĩa là nắm,
túm) - giọng BK bây giờ là jú, qú. Để chỉ con cóc, tiếng TH có các từ
thiềm HV (chán, zhān BK) viết bằng bộ trùng (cũng có nghĩa là bóng đen
trên mặt trăng, tiếng ghép HV thiềm thừ là con cóc); thừ HV (shú, chú,
yú BK) viết bằng bộ trùng hợp với chữ dư HT; ma HV (má, ṃ BK viết
bằng bộ trùng, c̣n là một loại ếch); Ba/pha/b́ HV (bŏ, pí BK viết bằng
bộ trùng hợp với chữ b́ HT - từ này ít dùng với tần số dùng là 10 trên
365398752 cho thấy một cách phân biệt cóc và nhái qua lớp da sần)…
Trái cóc có vỏ như da cóc … Theo người viết th́ cóc2 có thể
là một từ tượng thanh (con cóc có tiếng kêu đặc biệt ‘cọc… cọc”) với
âm yết hầu k-, và do đó một số ngôn ngữ khác không liên hệ ǵ đến
tiếng Việt hay Nam Á như ngôn ngữ của Easter Island ở Nam Thái B́nh
Dương cũng gọi cóc là kok, tiếng Inđônesia là kodok, katak, tiếng Kơho
là kit trô …
-
-
3.2
Voi
là một từ đáng chú ư : có nhiều cách viết chữ Nôm, như bộ khuyển hợp
với chữ vi HV (hài thanh, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị/ĐNQATV), bộ khuyển hợp
với chữ bôi (cái chén, HT cho thấy liên hệ b-v), bộ khuyển hợp vớI chữ
bút … Các chữ voi này rất xa lạ với người TH, . Tiếng TH hiện nay có
tượng
HV, giọng BK bây giờ là xiàng, giọng QĐ jeung6 liên hệ đến giống
tiếng Việt, viết bằng bộ nhân hợp với chữ tượng HT. Chữ tượng có cách
viết cổ giống như h́nh con voi nhưng lại dựng đứng lên để theo chiều
từ trên xuống dưới và để tiết kiệm diện tích viết chữ. Tượng c̣n dùng
để chỉ bức tượng trong tiếng Việt so với tiếng TH bây giờ phải dùng
các từ ghép như diāoxiàng BK (điêu tượng, tượng được khắc), sùxiàng (tố
tượng, tượng được nặn hay đắp thành). Ông hay bà quản tượng là người
coi (kiểm soát) voi hay là mahout, là tiếng Ấn Độ/Hindi mahaut gốc
tiếng Phạn là mahamatrah. Con tượng c̣n là con voi trong bàn cờ tướng.
Một điểm đáng chú ư là chỉ có voi là loài vật khác trong các loại lợn
được viết bằng bộ thỉ (con lợn) thứ 152.
Dự
là từ HV đă từng có nghĩa là con voi - chữ này viết bằng bộ thỉ, thật
ra là chữ dư hợp với chữ tượng - hiện thời có các nghĩa như vui vẻ (nghĩa
bây giờ hơi khác hơn và thiên về an nhàn), thoải mái, du ngoạn (hàm ư
vui vẻ), do dự, dự bị, một trong chín châu (Cửu Châu) của TH thời xưa
(bao gồm tỉnh Hà nam, do đó Dự cũng là tên cổ của Hà Nam3),
gạt gẫm … và rất ít tự điển ghi nhận nghĩa cổ của dự là voi4.
Theo người viết, vui là âm cổ cũng như một dạng khác là voi. Liên hệ
u-o (vui-voi) c̣n thấy trong các cách dùng tương đương như tùng-ṭng (thông),
chùm-cḥm, vũ-vơ, trụi-trọi, dung-dong, phù-pḥ, hụi-hội, tui-tôi,
thúi-thối … do đó ta có cơ sở giải thích liên hệ dự-vui-voi. Voi từ
chữ dự (có chữ tượng) hợp lư hơn là từ chữ vi (bộ trảo) theo Vương Lực
(xem phụ chú 4). Các dữ kiện hỗ trợ cho liên hệ dự-vui c̣n thấy qua
các chữ HV như du (yú BK, viết bằng bộ sước) có nghĩa là đi chơi, vui
vẻ; du HV (yú BK viết bằng bộ tâm) có nghĩa là yên vui … Các cách viết
khác nhau để ghi lại âm ‘vui’ cho thấy lư luận dự-vui thêm phần chính
xác (nhớ rằng chữ viết có sau tiếng nói).
-
-
3.3
Vụ
HV viết bằng bộ điểu, giọng BK bây giờ là wù, mù, giọng QĐ mou6, muk6,
Hẹ mu6, vu6 … nghĩa là một loài vịt. Chữ này không thông dụng trong
vốn từ TH hiện đại với tần số dùng là 105 trên 368707021 so với các
chữ khác như áp HV (yā BK), nga HV (é BK, ngo4 QĐ – ngan, ngỗng là các
dạng cổ), nhạn HV (yàn BK, ngaan6 QĐ) … Theo Thuyết Văn (TV), chữ ngan
đồng nghĩa với nhạn. Biến âm u-i của vụ-vịt không thường gặp nhưng c̣n
tàn tích trong các cách dùng bút-viết, thụ-chịu, nhu-diệu, đinh-chuồn
… Để ư phụ âm tắt –t ở sau nguyên âm thường mất đi trong giọng BK (phương
Bắc) nhưng vẫn c̣n duy tŕ trong tiếng Việt, giọng QĐ, Hẹ …
-
-
3.4
Đinh
viết bằng bộ trùng với chữ đinh HT, giọng BK bây giờ là dīng, chēng,
chéng, ding1, cing1 QĐ, Hẹ den1 …có nghĩa là con
chuồn chuồn.
Chữ này rất ít dùng với tần số dùng là 14 trên 430747376. So với các
chữ khác thường gặp trong vốn từ TH hiện nay như tinh HV (dīng, tīng
BK), đ́nh HV hay tinh đ́nh, linh HV (líng BK viết bằng bộ trùng hợp
với chữ linh/lệnh HT, để ư linh HV viết bằng bộ kim hợp với chữ linh/lệnh
là chuông)… Nếu ta để ư biến âm đ-tl/tr-ch (xem bài viết riêng về biến
âm này cùng tác giả) như độn-trốn-chuồn, đồn/đốn-truân-chiên, đồn-trôn,
điền-trần, đục-trọc, đoàn-tṛn, động-trọng-chuộng, đồng-tṛng (con
ngươi), đản-trần …v..v.. th́ có thể giải thích được liên hệ đinh-*chuôn
(biến âm i-u nói ở phần 3.3), hay dạng chuồn (thanh huyền có thể do
ảnh hưởng của phụ âm mũi –n). Tiếng Mường cũng có dạng chuồn chuồn,
tiếng Zhuang là chi-chuồn.
-
-
Như vậy th́ tiếng Việt vẫn
c̣n tàn tích trong tiếng TH, tuy nhiên các cách dùng từ ‘phương Nam’
từ từ mất dần đi5, có thể là do các tiếng phương Bắc thay
vào (giai cấp thống trị), hoặc không hợp với hệ thống âm điệu của Hán
tộc hay sự cố t́nh bôi xoá ?
-
Tóm tắt bài này là trong
tiếng TH có những từ Việt (Cổ) nhưng rất ít dùng, tuy nhiên trường hợp
của tên 12 con giáp rất đặc biệt : được dùng trong việc ghi lại thời
gian, không gian, bói toán, cúng kiến … rất phổ thông trong văn hoá và
tín ngưỡng dân gian, chúng gắn liền với lịch sử tư tưởng của TH và VN,
đóng một vai tṛ quan trọng trong văn hoá dân tộc. Do đó, chúng là
những từ hoá thạch (fossilised) gắn bó với câu ca dao
-
-
‘Trăm năm bia đá th́ ṃn
-
Ngàn năm bia miệng vẫn c̣n trơ trơ’
-
-
4. Phụ chú
-
-
(1) Bảng so sánh trên cho
thấy liên hệ giữa tiếng Pháp và Anh như sạc tiếng Pháp và tiếng Anh
giống y như nhau, gốc tiếng Pháp Cổ (Old French) là chargier (chất đồ
lên, tải), liên hệ đến tiếng La Tinh carrus (chiếc xe) do đó ta có các
dạng tiếng Anh như car/xe, carry/chở, chariot/xe … và nếu truy tầm
thêm nguồn gốc các chữ trên th́ sẽ thấy nhiều tương quan của nhóm (ḍng,
ngữ hệ) La Mă, họ Ấn Âu (Indo-European) phản ánh qua lịch sử và quá
tŕnh phát triển văn hoá của Hi Lạp, Ư, Pháp v..v.. Điều này ra ngoài
mục đích của bảng so sánh cốt là cho thấy các tiếng mượn từ tiếng Pháp
mà thôi.
-
-
(2) Tác giả Lê Gia trong
“Tiếng Nói Nôm Na” (NXB Văn Nghệ Thành Phố HCM, 1999) th́ giải thích
cóc là từ hốc, cốc mà ra “loài vật dơ dáy, bẩn thỉu, tối ngày ngồi
trong hang trong hốc” (trang 1451).
-
-
(3) Tỉnh Hà Nam vẫn c̣n một
số hoạt động như cỡi voi cho du khách.
-
-
(4) Theo tác giả Nguyễn Văn
Tu trong “Từ và vốn từ - tiếng Việt hiện đại” (NXB Đại Học và Trung
Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội 1976) th́ voi có nguồn gốc là chữ vi “…theo
sự nghiên cứu của ngành Cổ Văn Tự, vi là chữ tượng. Theo tiếng Việt
thiên đọc là vi c̣n tượng đọc là voi…” (trang 266) - trích dẫn từ kết
luận của nhà ngữ học TH Vương Lực trong các cuốn “Hán Việt Ngữ nghiên
cứu” và “Hán ngữ sử luận văn tập” (khoảng 1958). Sau gần 3 thập niên,
tác giả Lê Đ́nh Khẩn cũng lặp lại điều này trong cuốn “Từ vựng gốc Hán
trong tiếng Việt” (NXB Đại Học Quốc Gia Thành Phố HCM, 2002), tuy
nhiên tác giả có bàn thêm là thời thượng cổ “…không chắc là âm đọc
theo chữ nào trong hai chữ đồng nghĩa ấy …” (trang 59). Khi tra cách
viết và khắc của chữ vi (Cổ Văn) ta thấy h́nh hai con khỉ trên h́nh
con voi tuy h́nh vẽ không rơ ràng lắm, theo ‘Tại Tuyến Hán Điển’ trên
mạng Internet, và ‘Chinese Characters’ của L. Wieger - cả hai tài liệu
này đều ghi vi là ‘khỉ cái’. Để ư cách đọc vi HV là wèi BK, Hẹ
wui3,
wuị, wi3, wi5 … C̣n theo Từ Nguyên th́ nghĩa cổ nhất của dự là “tượng
chi đại giả - kiến Thuyết Văn” . Voi giữ một địa vị đặc biệt trong
lịch sử VN : nào là chuyện bà Triệu cỡi voi chống ngoại xâm, nào là
những khi được triều cống cho TH, nào là các h́nh phạt cho voi xé xác,
voi giày … và hiện diện trong ca dao thành ngữ như “khoẻ như voi”,
“muỗi đốt chân voi”, “chỉ buộc chân voi”, “được voi đ̣i tiên”, “trăm
voi không được bát nước xáo”, ”có con gái lớn trong nhà như cỡi đầu
voi dữ”, “trời sinh voi trời sinh cỏ”…v…v.. Hiếm lắm ta mới thấy vài
thành ngữ có voi trong văn hoá TH như “tượng trợ ngọc bôi” (đũa bằng
ngà voi và chén bằng ngọc, chỉ cuộc sống giàu sang) hay “tượng xỉ phần
thân” (voi chết chỉ v́ muốn lấy ngà, của cải đem đến nguy hiểm).
-
-
(5) Khuynh hướng mất dần
các vết tích của ngôn ngữ phương Nam (thời Bách Việt về sau) đồng thời
với khuynh hướng bành trướng của lănh thổ TH và các đợt di dân cùng
pha trộn với dân bản địa trên lưu vực sông Hồng. Các vết tích của
tiếng Việt như voi, vịt, cóc, chuồn chuồn …trong tiếng TH chứng tỏ
phần nào nhận định tổng quát này.
Phần II
- 1.
Tổng quát
-
-
Từ phần 1, với một cách
phân tích đơn giản ta thấy là 12 con giáp liên hệ đến cách gọi tên con
vật trong tiếng Việt qua 3 chi Măo/Mẹo/mèo, Ngọ/ngựa và Tư/Tử/chuột.
Các phần đầu 1, 2 có mục đích là giới thiệu tổng quát về tên 12 con
giáp và đặt nền tảng cho các phần sau chi tiết hơn (phần 3 về sau bàn
về tên mỗi con giáp). Người viết cố tránh dùng các thuật ngữ để cho dễ
đọc và dễ cảm nhận hơn. Tiếng chuông cảnh tỉnh mọi người về nguồn gốc
phi-Trung-Hoa của tên con giáp thật ra đă được giống lên từ những
công tŕnh khảo cứu ngôn ngữ học của vùng Đông Nam Á từ thập niên
1930, bởi các tác giả nước ngoài, đáng lẽ phải từ các nghiên cứu khảo
cổ hay lịch sử và văn hoá dân gian của dân địa phương mới ‘hợp lư’ và
‘hợp t́nh’. Nhưng có thể v́ những cuộc chiến tranh tàn khốc trong khu
vực này trong cả thế kỷ qua nên không cho ra bao nhiêu kết quả chính
xác. Thêm vào đó là lịch sử rất lâu đời của vùng Đông Nam Á, cùng với
nhiều đợt giao lưu văn hoá qua đường biển cũng như trong đất liền, làm
cho quá tŕnh nghiên cứu không được mấy dễ dàng. Điều đầu tiên là lập
bảng so sánh tên 12 con giáp của các ngôn ngữ trong vùng như sau. Để ư
một nước có thể dùng nhiều bảng con giáp1 (VN có ít nhất là
3 bảng) và sự thay đổi nghĩa của một số chi như rồng trở nên con naga
(ảnh hưởng của Ấn Giáo, một loài vật huyền thoại nửa voi nửa rắn, có
khi nửa người nửa rắn, nửa người nửa tiên…), gà trở thành con chim (theo
Tây Tạng, gà thuộc vào loài chim – gà là con vật duy nhất có cánh
trong 12 con thú), sự phân biệt giống đực hay cái (gà trống, dê đực …)
thay v́ tổng quát, có cả sâu bọ2, heo thành voi theo một
cách ghi 12 con giáp của Thái Lan, bị ảnh hưởng tiếng Phạn Nam/Pali.
Pali hay tiếng Phạn Nam (phía Nam) có gốc là tiếng Phạn Cổ (classical
Sanscrit) nhưng đơn giản hơn, các kinh điển của Phật Giáo đầu tiên
được chép bằng tiếng Pali và truyền từ Sri Lanka đến Miến Điện
(Myanmar), Thái Lan, Kampuchia, Việt Nam (phần nhỏ) … thuộc phái Tiểu
Thừa (Theravada) so với phái Đại Thừa (Mahayana) truyền từ TH qua. Các
ngôn ngữ dân tộc thiểu số được dùng để so sánh hầu t́m ra các dây liên
hệ như tiếng Saek đang có hiểm hoạ diệt vong, thuộc ḍng Thái-Kadai và
chỉ dùng trong vài làng bên Lào và Thái Lan. Tiếng Yay cũng giống như
tiếng Dioi cùng thuộc ḍng Thái. Tiếng Ahom đă từng hiện diện ở Assam,
bây giờ không c̣n nữa và chỉ dùng trong các hoạt động tôn giáo địa
phương. Dân tộc Ahom có gốc từ tỉnh Vân Nam, di dân xuống miền Đông
Nam Á Châu và Bắc Miến Điện.
-
- 2.
Bảng so sánh các tên 12 con giáp Á Châu
-
-
Việt (bảng 1)
|
-
Việt (bảng 2)
|
-
Việt (bảng 3)
|
-
Hán (Bắc Kinh)
|
-
Quảng Đông
|
-
Tư/Tí/Tử
|
-
Thử (D)
|
-
Chuột
|
-
Zĭ
|
-
zi2/ci2
|
-
Sửu
|
-
Ngưu/Ngâu
|
-
Trâu
|
-
Chŏu
|
-
Cau2
|
-
Dần
|
-
Hổ/Hùm
|
-
Cọp
|
-
Yín
|
-
Yan4
|
-
Măo/Mẹo
|
-
Thố/Thỏ
|
-
Mèo
|
-
Măo
|
-
Mau3
|
-
Th́n/Thần
|
-
Long
|
-
Rồng
|
-
Chén
|
-
San4
|
-
Tỵ/Tị
|
-
Xà
|
-
Rắn
|
-
Ś
|
-
zi6
|
-
Ngọ
|
-
Mă
|
-
Ngựa
|
-
Wŭ
|
-
ng2/ng5
|
-
Mùi/Vị
|
-
Dương
|
-
Dê
|
-
Wèi
|
-
Mei6
|
-
Thân
|
-
Khôi (khọn)
|
-
Khỉ
|
-
Shēn
|
-
San1
|
-
Dậu
|
-
Kê
|
-
Gà
|
-
Yŏu
|
-
Jau5
|
-
Tuất
|
-
Khuyển (Cẩu)
|
-
Chó (Cầy)
|
-
Xū
|
-
Seot1
|
-
HợI
|
-
Trư
|
-
Heo (Lợn)
|
-
Hài
|
-
Hoi6
|
-
-
Nhật (on)
|
-
Nhật (kun)
|
-
Đại Hàn
|
-
Pali/Thái
|
-
Khme
|
-
Ne
|
-
Shi
|
-
Ja
|
-
Musika
|
-
Jut
|
-
Ushi
|
-
Chu
|
-
Chug
|
-
Pasu
|
-
Chiu
|
-
Tora
|
-
In
|
-
In
|
-
Vyaggha/saddula
|
-
Kha1
|
-
U
|
-
Bo
|
-
Myo
|
-
Sasa
|
-
Thoh
|
-
Tatsu
|
-
Shin
|
-
Sin
|
-
Mahoraga
|
-
Rong
|
-
Mi
|
-
Shi
|
-
Sa
|
-
Sappa
|
-
Msang
|
-
Uma
|
-
Go
|
-
O
|
-
Turanga
|
-
Mami
|
-
Hitsuji
|
-
Bi
|
-
Mi
|
-
Aja
|
-
Mame
|
-
Saru
|
-
Shin
|
-
Sin
|
-
Makkata
|
-
Vok
|
-
Tori = con chim
|
-
Yu
|
-
Yu
|
-
Kukkuta
|
-
Raka
|
-
Inu
|
-
Jutsu
|
-
Sul
|
-
Kukkura
|
-
Ca
|
-
I
|
-
Gai
|
-
Hal
|
-
Kunjara=con voi
|
-
Kur
|
-
Tiếng Saek cổ
|
-
Tiếng Saek
mới
|
-
Thái/Xiêm (A)
|
-
Lào
|
-
Đài-Loan
|
-
Tii6
|
-
Suat5
|
-
Chuat3
|
| |