Home T́m Ca Dao Trang Chủ Toàn Bộ Danh Mục e-Cadao English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
Cảm Nghĩ
 
Ẩm Thực
Chợ Quê
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Trang Chủ
 

 
 

 

 
   

NGƯỜI LẮNG THẦM T̀M CON CHỮ VIỆT CỔ

 Nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền (phường Tân Dân, Việt Tŕ, Phú Thọ), là người từ bao năm nay đă lặng lẽ bỏ bao công sức đi t́m và giải mă chữ Việt cổ.     

Ông Đỗ Văn Xuyền khẳng định: “Buổi lập nước, triều đại Vua Hùng, chúng ta có một nền giáo dục rực rỡ. Người Việt ta đă có chữ viết trước cả người Hán”.

 

      

                       Nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền 

Hơn 50 năm trước, về với Đất Tổ, ông Đỗ Văn Xuyền là một anh giáo tuổi 20. Không biết có phải do duyên tiền định hay ư thức trước sự nghiệp của tiền nhân. Ông bắt đầu lặng thầm trên con đường t́m chữ Việt cổ. Ông t́m thấy bộ chữ 17 kư tự gọi là hoả tự (nh́n giống ngọn lửa cháy) của Vương Duy Trinh (năm 1903 Tổng đốc Thanh Hóa)  viết trong “Thanh Hoá quan phong” in năm 1903 đă cho rằng đây là chữ Việt cổ c̣n sót lại ở Tây Bắc. Vương Duy Trinh viết: “V́ thập châu (vùng Tây Bắc) là nơi biên viễn (biên giới xa) nên dân ta c̣n lưu giữ được thứ chữ ấy. Các nơi khác, Sĩ Nhiếp (186) bắt bỏ hết để học Hán tự”. Ông t́m thấy bộ chữ Thái thổ tự của Phạm Thận Duật phát hiện năm 1855 cũng ở vùng Tây Bắc. Ông đọc sách Thông giám cương mục của Chu Hi đời Tống nói: “Đời Đường Nghiêu thứ 5 (2352 trước công nguyên) người Nam Di Việt đến chầu, hiến con rùa lớn…”. Theo cổ sử Trung Quốc “vào thời Vua Nghiêu ( năm 2357 trước công nguyên) có sứ giả Việt Thường đến kinh đô tại B́nh Dương (phía bắc sông Hoàng Hà - tỉnh Sơn Tây ngày nay) để dâng một con thần quy, vuông hơn ba thước, trên lưng có khắc chữ Khoa Đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở trở về sau”. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Quy Lịch. Sách Lĩnh Nam Chích Quái của ta cũng ghi rơ điều này.

Trong một bản Ngọc phả từ thời vua Trần Thái tông cũng ghi: “Nghiêu thế, Việt Thường thị kiến thiên tuế thần qui, bối hữu Khoa đẩu” nghĩa là thời vua Nghiêu, nước Việt Thường tặng rùa thần ngh́n tuổi, lưng có chữ Khoa đẩu. Nhà nghiên cứu Lê Trọng Khánh cũng nhắc đến chữ khoa đẩu thời tiền sử của dân ta.

Ông Xuyền t́m lời tựa cuốn tự điển Việt -  Bồ - La xuất bản năm 1651 ở Rôma mà tác giả Alexandre de Rodes đă viết: Đối với tôi, người dạy tài t́nh nhất là một thiếu niên bản xứ. Trong ṿng ba tuần, anh ta đă hướng dẫn cho tôi tất cả các thanh của ngôn ngữ ấy và cách đọc các từ”, theo ông Xuyền, ngôn ngữ đó là chữ Việt cổ.

Một trong những thành tựu rực rỡ nhất mà ông cha ta xây dựng nên từ thời tiền sử là thành tựu giáo dục. Thời Hùng Vương chúng ta đă có một hệ thống giáo dục với các trường học, các thầy cô giáo và các em học sinh. Cha ông ta đă phát minh ra giấy viết. Ông Xuyên dầy công t́m hiểu và dịch được tên tuổi 18 thầy giáo từ thời Hùng Vương từ thời Hùng Vương thứ 6 và nhiều tên tuổi các học tṛ nổi danh trong lịch sử.

Trong tập: “Sự h́nh thành và phát triển chữ Việt cổ”, do Viện Văn hoá in năm 1986, Giáo sư Lê Trọng Khánh đă dẫn chứng: Nhiều dân tộc trong Bách Việt đă dùng chữ Khoa đẩu từ thời Phục Hy- Thần Nông để ghi tiếng dân tộc ḿnh. Như vậy, dân tộc Kinh - Lạc Việt lại không c̣n văn bản hay sao? Riêng ở Việt Nam, chữ khoa đẩu được dùng lâu hơn. Măi đến đời Sĩ Nhiếp vẫn c̣n, tuy Sĩ Nhiếp cấm đoán nhưng nhân dân ta vẫn dùng.

Nhiều nhà nghiên cứu, từ Hà Văn Tấn, Lê Trọng Khánh, Bùi Văn Nguyên, Trần Ngọc Thêm... cho đến Vương Duy Trinh, Trương Vĩnh Kư, cả những nhà nghiên cứu nước ngoài ở Anh, Tiệp Khắc, Mỹ, Pháp, nhất là Trung Quốc: Từ Lục Lưu, đến Hứa Thân, Trịnh Tiểu... đều khẳng định: Việt Nam xưa đă có chữ viết riêng.              

 

Gần đây Nhóm nghiên cứu Chữ Việt cổ và giáo dục thời Hùng Vương, do nhà văn Khánh Hoài - Đỗ Văn Xuyền lănh đạo đă có những khám phá rất quan trọng. Một trong những kết quả nghiên cứu của Nhóm là phát hiện ra một bộ chữ Việt cổ được lưu giữ ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Các nhà khoa học cho rằng văn tự này có thể là một biến thể của chữ “Khoa đẩu” hay “Hoả tự” đă ghi trong cổ sử. Thứ chữ đă tồn tại trong nền văn hoá tiền Việt - Mường. Do không được sử dụng phổ biến, bộ chữ này bị đóng băng, không phát triển theo kịp những biến âm trong tiếng nói người Việt hiện đại. Đến thế kỷ 16 khi đạo thiên chúa truyền vào nước ta, một nhóm trí thức người Việt đă cùng các giáo sĩ phương tây La Tinh hoá bộ chữ này thành chữ Quốc ngữ mà ta đang dùng ngày nay. 

Điều làm tôi vô cùng cảm phục là ông Xuyền không phải là nhà khoa học, không hưởng lương chuyên môn nhưng 50 năm qua, để đi những chuyến điền dă, ông phải thế chấp sổ hưu để vay tiền, dù quỹ thời gian ngày một ngắn và dù mang trong ḿnh nhiều thứ bệnh tuổi tác nhưng ông sẵn sàng lên đường bất cứ lúc nào, tới bất cứ đâu v́ chữ Việt cổ. Cái tài, cái tâm của một nhà giáo, một nhà nghiên cứu chân chính và trọng trách với tiền nhân, với dân tộc, niềm tin vào văn hóa của một dân tộc có ngh́n năm văn hiến đă tiếp sức cho ông.

Năm 2005, nhân dịp lên thăm và làm việc tại tỉnh Phú Thọ, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đă trao đổi với ông Xuyền về chữ Việt cổ và động viên ông tiếp tục nghiên cứu. Gần đây, ông Xuyền cũng đă có buổi báo cáo lên Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân về vấn đề này. Cuối năm 2007, tại Trung tâm Văn hóa Người cao tuổi, hơn 40 nhà khoa học đă nghe ông báo cáo về những phát hiện mới của chữ Việt cổ. Giáo sư Trần Phương, nguyên phó Thủ tướng Chính phủ đă đánh giá cao những phát hiện của ông.

Qua điện thoại ông mời tôi ngày 4-3 âm này lên Việt Tŕ khánh thành rùa đá, mô phỏng rùa đá Vua Hùng xưa tặng Vua Nghiêu, trên mai có khắc chữ hỏa tự (chữ Việt cổ) tại đền thờ thầy giáo Vũ Thê Lang (Thầy Vũ công ở Mộ Trạch Hải Dương, ḍng dơi thi thư lên cung thành kinh đô Văn Lang, ở thôn Hương Lan, ngày nay thuộc xă Trưng Vương - Việt Tŕ dạy học. Hai ông bà sinh được người con đặt tên là Vũ Thê Lang, khi trưởng thành Vũ Thê Lang đă dạy hai công chúa của Hùng Duệ Vương là Tiên Dung và Ngọc Hoa. Nhân dân đă lập đền thờ vợ chồng Vũ Thê Lang, đền này có tên là “Thiên Cổ Miếu”)  tại thôn Cổ Miếu, xă Thê Lang. Ông Xuyền cho biết ngày 4 âm này c̣n có Trung tâm văn hóa người cao tuổi Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu và phát triển văn hóa Lạc Việt của thành phố Hồ Chí Minh, cùng nhiều nhà nghiên cứu, nhà tài trợ cùng lên. Ông như reo lên trong máy nói đă t́m ra mật mă của những văn tự cổ.

Người viết bài này từng sống và dạy học ở vùng đồng bào dân tộc Thái Tây Bắc 30 năm, có chút am hiểu về văn hóa Thái Tây Bắc, từng viết hàng trăm bài về văn hóa Thái đăng trên các báo, tạp chí của TW và địa phương. Đặc biệt, năm 2007 tôi được vinh dự cùng nghệ nhân Ḷ Văn Biến ở bản Căng Nà, phường Trung tâm, thị xă Nghĩa Lộ, Yên Bái biên soạn thành công “Bộ tài liệu dạy tiếng và chữ Thái cổ Mường ḷ”, nay được Bộ Nội Vụ triển khai làm chương tŕnh khung cho 7 tỉnh có đông người Thái sinh sống để chỉnh sửa, dạy cho cán bộ, viên chức đang công tác tại vùng dân tộc Thái. Vậy mà khi biết công tŕnh nghiên cứu lặng thầm hơn 40 năm của ông Đỗ Văn Xuyền, tôi đă vô cùng xúc động và khâm phục.

Nhờ những người như ông Đỗ Văn Xuyền mà chữ Việt cổ của dân tộc ta có cơ hội được phục sinh. Những người con của đất nước con Rồng cháu Tiên, trong nghĩa đồng bào với hàng ngàn năm văn hiến có thêm một cứ liệu đáng tin cậy về truyền thống văn hóa dân tộc. Tôi cứ ao ước rằng, giá như công tŕnh của ông xuyền cùng nhóm nghiên cứu được đưa vào danh mục công tŕnh trọng điểm quốc gia và có một nguồn kinh phí của Nhà nước cùng các nhà tài trợ th́ tốt biết bao, nhất là khi quỹ thời gian của ông không c̣n nhiều nữa, dẫu nhiệt huyết là vô hạn.

 

              (Trong bài có sử dụng một số tư liệu của các nhà nghiên cứu)

 

         Trần Vân Hạc

 

 

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Hỗ Trợ Kỹ Thuật

Hoàng Vân, Julia Nguyễn

Web Database

Nguyễn Hoàng Dũng
Xin vui ḷng liên lạc với  haphuonghoai@gmail.com về tất cả những ǵ liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 10/19/17