Home T́m Ca Dao Diễn Đàn T́m Dân Ca Phổ Nhạc T́m Câu Đố T́m Chợ Quê Góp Ư Toàn Bộ Danh Mục e-Cadao English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
Cảm Nghĩ
 
Ẩm Thực
Chợ Quê
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Trang Chủ
 

 
 

 

 
 

Đền Bà Tấm

Ỷ Lan tên thật là Lê Thị Yến, chính quê ở làng Thổ Lỗi, sau đổi là Siêu Loai, huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc xă Dương Xá huyện Gia Lâm). V́ mẹ mất lúc 12 tuổi, cha lấy vợ kế nên Ỷ Lan sống khổ như cô Tấm trong truyện cổ tích. Có lẽ v́ vậy mà dân gian thường gọi đền thờ bà ở xă Dương Xá là đền Bà Tấm. Ngay cả ngôi chùa ở kề bên do bà cho xây dựng năm 1115, tên chữ Linh nhân phúc tự  cũng được gọi là chùa Bà Tấm.

Bà Tấm là người phụ nữ  nổi danh trong lịch sử. Chuyện kể rằng, vua Lư Thánh Tông (1054 - 1072) trong một lần về chùa Dâu cầu tự, t́nh cờ gặp cô gái hái dâu ở làng Thổ Lỗi. Thấy cô xinh đẹp lại có tài đối đáp, vua bèn  đưa về cung và phong là Nguyên phi. Vua lại cho xây một cung riêng cho bà và đặt tên là cung Ỷ Lan để ghi nhớ h́nh ảnh cô gái dựa gốc lan trong buổi đầu gặp gỡ. Cung Ỷ Lan nay là đ́nh Yên Thái, phường Hàng Gai, quận Hoàn Kiếm.

Ở nơi cung cấm, Ỷ Lan chịu khó đèn sách nên chỉ một thời gian ngắn đă hiểu biết sâu sắc về mọi mặt. Năm 1069, vua Lư Thánh Tông cùng đại quân chinh Nam, trao quyền nhiếp chính cho bà. Nhờ định kế sách đúng đắn, quyết đoán và táo bạo nên loạn lạc được dẹp yên, dân đói được cứu sống. Năm 1072, vua Lư Thánh tông qua đời, Ỷ Lan trở thành Hoàng thái hậu giữ quyền nhiếp chính, từ đó đất nước Đại Việt bước vào giai đoạn cường thịnh. Năm 1077, nhà Tống đem quân sang xâm lược  nước ta, Ỷ Lan (có sự trợ giúp của Thái úy Lư Thường Kiệt) đă huy động sức dân đánh bại kẻ thù. Bà Ỷ Lan đem lại nhiều ơn đức cho dân, được nhân dân tôn là Quan Âm nữ. Ngay cả khi bà c̣n sống, nhiều nơi đă lập ban thờ bà.

Đền thờ bà ở quê hương xây dựng vào cuối thế kỷ XI, kiến trúc theo lối cung đ́nh có 72 cửa. Trong đền c̣n nhiều di vật quư. Nổi bật là hai sư tử tạo bằng đá liền khối cao 1,2m rộng 1,36m trong tư thế phủ phục, đường nét đặc biệt mềm mại. Sư tử ở đền Ỷ Lan đang vờn ḥn ngọc, trên trán có trổ chữ Vương khẳng định vị trí chúa tể muôn loài, đồng thời cũng thể hiện uy quyền của vương triều. Trong đền c̣n có một thành bậc bằng đá chạm nổi rồng và lân đang chạy xuống. Thành đá dài 1,3m cao 0,8m.

Hậu cung đền có tượng Ỷ Lan được tạo tác rất đẹp, tạc khi bà là Nguyên phi cùng 6 vị cung nữ trong triều. Gian ngoài có đặt ngai thờ và một số đồ tế khí. Trên ngai có bài vị ghi: Lư triều đệ tam Hoàng thái hậu.

Hiện nay, cả nước ta có 72 nơi lập đền thờ bà. Nhưng đền thờ ở Dương Xá có quy mô lớn, thực sự là công tŕnh độc đáo của dân tộc.

Hằng năm vào ngày 19, 20, 21 tháng 2 âm lịch nhân dân 9 xă của tổng Dương Quang (từ Phú Thị đến huyện Văn Lâm - Hưng Yên) và những làng cấy ruộng hậu của đền đều lo tổ chức hội. Chính hội là ngày 19 tháng 2, tương truyền là ngày sinh của bà.

Theo khảo sát của TS Lê Hồng Lư, mỗi năm hội đều có phường hát ở các nơi đến đăng cai hát giữ cửa đền suốt từ 19 tháng 2 đến hết hội. Thường là các phường đến xin, địa phương tín nhiệm phường nào th́ cho phép tới hát, đến khi ră đám mới thanh toán tiền cho họ. Hội c̣n có tṛ đấu cờ người, tổ tôm điếm, đấu vật, chọi gà.

HNM

 

 

 

LINH NHÂN THÁI HẬU :

SỰ QUAY VỀ MUỘN MÀNG?

                                                                            Đền thờ Nguyên Phi Ỷ Lan

Câu chuyện người con gái hái dâu tên Lê Thị Yến1 làng Thổ Lôi tỉnh Bắc Ninh (sau này được nhà vua đổi tên là Siêu Loại) trở thành Ỷ Lan nguyên phi, vợ yêu cuả vua Lư Thánh Tông đă trở thành huyền thoại. Với dân gian Ỷ Lan là nguyên mẫu cuả cô Tấm thảo hiền trong truyện cổ tích Tấm Cám. Bắc Ninh vốn là nơi chuyên về nghề nuôi tằm dệt vải, là quê hương cuả những làn quan họ diễm t́nh và cũng là nơi sản sinh nhiều mỹ nữ trong đó không ít đă trở thành những vương phi sũng ái cuả các bậc vua chúa.

 

Nàng Tấm cuả chúng ta chắc hẳn phải xinh đẹp, thông minh và giàu ước mơ tham vọng. Sử kể rằng vua Thánh Tông đời Lư đă 40 tuổi chưa có con trai, vua bèn đến chùa cầu tự. Ngự giá đi đến đâu, dân làng đều dàn hầu hai bên đường để chiêm vọng. Lúc qua làng Thổ Lôi có người con gái hái dâu thấy xe vua đi, cứ đứng tựa gốc lan chứ không ra xem. Vua lấy làm lạ truyền gọi vào cung, phong làm Ỷ Lan phu nhân (phu nhân tựa cây lan), sau sinh ra  thái tử Càn Đức, Ỷ Lan được phong làm nguyên phi (đứng đầu các phi)2.

 

Sở dĩ nàng có hành động khác thường v́ nàng thừa thông minh để hiểu rằng nhà vua đang trông chờ phép lạ mà các hoàng hậu3 và phi tần chốn hoàng cung đă không đáp ứng được, đó là sinh cho nhà vua một hoàng tử; một cô gái xinh đẹp và tràn đầy sức sống như nàng sao lại không ước mơ và tự tin rằng đây là duyên trời dành riêng cho ḿnh. Có lẽ trái tim vị vua 40 tuổi đă rung động trước nhan sắc hồn nhiên tươi thắm cuả người con gái hái dâu nên không những không bắt tội khi quân mà lại cho là điềm lạ và lập tức đưa nàng về cung. Như một giấc mơ, chỉ trong phút chốc từ chốn dân dă nàng bước vào cung điện lầu son gác tiá, từ địa vị phu nhân, ba năm sau, khi sinh Càn Đức (tháng giêng Bính Ngọ-1066)4 trở thành nguyên phi.

 

Ỷ Lan không chỉ có công sinh ra Càn Đức để nối dơi ngôi vua mà c̣n có tài trị nước. Theo Toàn Thư vào năm Kỷ Dậu (1069) vua đi đánh Chiêm Thành măi không được, đem quân về đến châu Cư Liên, nghe tin nguyên phi giúp việc nôi trị vững vàng, ḷng dân ca ngợi, vua nói: nguyên phi là đàn bà c̣n làm được như thế, ta là nam nhi lại chẳng được việc ǵ sao? Bèn quay lại đánh nữa, thắng được.

 

Nhưng tột đỉnh hạnh phúc ấy chỉ được 9 năm ngắn ngủi, tháng giêng Nhâm Tư (1072) vua Thánh Tông băng, thái tử Càn Đức 7 tuổi nối ngôi tức Lư Nhân Tông. Có lẽ nhà vua mất quá nhanh nên không kịp lập di chiếu trao quyền phụ chính cho ai, Lư Đạo Thành lúc đó giữ chức thái sư, hẳn nhiên chức phụ chính thuộc về ông và ông đă ủng hộ Dương hậu làm nhiếp chính5. Sử chép Nhân Tông tôn mẹ ruột làm hoàng thái phi và mẹ đích là Thượng Dương thái hậu buông rèm nhiếp chính.

 

Cuộc sống hậu cung chứa đầy những cơn sóng ngầm cuả ghen ghét và toan tính độc ác. Ỷ Lan được nhà vua sũng ái tất có lắm kẻ thù. Dương Hậu là một đối thủ đáng gờm nay được quyền nhiếp chính, c̣n bà là mẹ đẻ lại bị tước quyền, bị đẩy vào t́nh thế bất an, thử hỏi làm sao không bất b́nh lo sợ. Thái hậu c̣n trẻ, nếu cho rằng khi gặp vua Thánh Tông chừng 17-18 th́ lúc này bà khoảng 26-27, số tuổi chưa đủ để bà có một suy nghĩ và hành động chín chắn, nên đă khóc với vua Nhân Tông “mẹ già khó nhọc mới có ngày nay, mà bây giờ phú quư người khác được hưởng, thế th́ sẽ để mẹ già vào đâu?”.Vua bèn sai đem giam Dương thái hậu và 72 người thị nữ vào cung Thượng Dương rồi buộc phải chết chôn theo Thánh Tông. Hoàng thái phi được tôn làm Linh Nhân thái hậu, cầm quyền nhiếp chính (Quư Sửu – 1073)6. Trong vụ đảo chính này có lẽ Ỷ Lan đă dựa vào Lư Thường Kiệt (là thái uư nắm giữ binh quyền), Lư Đạo Thành do can ngăn đă bị giáng chức đổi ra coi châu Nghệ An7. (Phải chăng tác giả truyện Tấm Cám đă mô phỏng hành động bức tử Thượng Dương thái hậu cuả Ỷ Lan mà hư cấu nên t́nh tiết nàng Tấm phỉnh gạt Cám để giết Cám?)

 

Linh Nhân thái hậu đă phạm một tội ác tày trời, đó là bức tử 73 sinh mạng nhằm củng cố quyền lực cuả ḿnh, tội ác này đă làm mai một tiếng thơm cuả bà từ trước mà phải đợi đến 12 năm sau, qua sử sách ta mới thấy những chứng cứ rằng bà đă thành tâm sám hối tội lỗi cuả ḿnh:

 

-Năm Ất Sửu (1085) bấy giờ thiên hạ vô sự, thái hậu đi khắp nơi, ư muốn dựng chùa xây tháp (Toàn Thư ghi nhầm là hoàng hậu).

-Tháng 8 năm Đinh Sửu (1097) thái hậu làm nhiều chùa tháp (Toàn Thư).

-Tháng 2 năm Quư Mùi (1103) thái hậu xuất tiền trong kho để chuộc lại con gái nhà nghèo bị cầm thế đem về gả cho những người goá vợ (Toàn Thư, Đại Việt sử lược).

-Năm Ất Mùi (1115) thái hậu dựng chùa thờ Phật, trước sau hơn 100 chùa (Toàn Thư, Cương Mục). Theo Đại Việt sử lược tháng 3 năm này chùa Sùng Phước ở làng Siêu Loại (quê thái hậu) hoàn thành.

 

Đại Việt sử lược ghi “Để sám hối việc đă lỡ lầm đó, Linh Nhân hoàng thái hậu lập nhiều chùa chiền thờ Phật và việc chuộc bần gia nữ”. Việt Sử Tiêu Án th́ đánh giá việc sám hối làm phúc ấy là quá muộn. (trang 53 - bản điện tử)

 

Thời Lư đạo Phật có ảnh hưởng lớn trong xă hội, các vua Lư đều rất sùng đạo, vua Lư Thánh Tông là bậc tu hành thuộc thế hệ thứ nhất cuả phái Thảo Đường8. Tất nhiên Ỷ Lan cũng mộ Phật thương người, nhưng do tham sân hận mà đă gây nên tội ác. Khi tham vọng và sự trả thù đă được thoả măn th́ Phật tánh trong bà xuất hiện làm cho bà không thể có những giấc ngủ yên lành. Cứ cho Thượng Dương thái hậu là người đáng bị trừng phạt nhưng cớ sao lại bắt 72 cung nữ vô tội phải chết oan?  Bà là người hiểu rơ luật nhân quả, sự báo ân trả oán trong kinh Phật nên lại càng muốn chuộc lỗi. Tuy nhiên v́ thời gian thái hậu buông rèm nhiếp chính kéo dài đến 12 năm , cũng là thời gian Đại Việt phải giải quyết những cuộc chiến tranh với nhà Tống ở phương bắc  (1075-1077) và Chiêm Thành ở phương nam nên bà chưa thể có những công tŕnh to tát để chứng minh sự thành tâm sám hối dù có thể thái hậu đă từng lập đàn giải oan cho các vong hồn bị bà bức hại.

           

Hẳn do nhân lành tiền kiếp, trong sự quay về này Linh Nhân thái hậu đă được nhiều vị thiền sư danh tiếng đời Lư Nhân Tông - thường được nhà vua và thái hậu vời vào cung để giảng kinh hay đàm đạo - trợ duyên như Giác Hải, Không Lộ, Chân Không, Măn Giác, Thông Biện…mà gần gủi và có ảnh hưởng lớn đối với bà là Đại sư Măn Giác và Quốc sư Thông Biện.

           

Đại sư Măn Giác (1052-1096) tên Trường, con cuả viên ngoại lang Lư Hoài Tố (trước họ Nguyễn, được vua đổi sang họ Lư), năm 20 tuổi (1071) được chọn vào cung hầu thái tử, học rộng hiểu nhiều, thích chú tâm vào thiền học , rất được thái hậu yêu mến. Trong khoảng Anh Vũ Chiêu Thắng (1076-1084) Sư dâng biểu xin xuất gia (có thể ư chí xuất gia càng mănh liệt khi chứng kiến sự bức tử - NV) và khi đạt đạo đă được vua và thái hậu lúc mới lưu tâm đến thiền học mời về ở chùa gần cung Cảnh Hưng để tiện việc hỏi han. Măn Giác là người được vô sư trí (trí tuệ không do thầy dạy) nên rất được vua và thái hậu trân trọng gọi là Trưởng lăo9. Sư là người đầu tiên dẫn dắt con đường tu hành cho thái hậu và hướng dẫn cách giải oan các vong hồn. Đại sư Măn Giác đă từng tháp tùng cuộc tuần du cuả thái hậu năm Ất Sửu (1085), ư cuả thái hậu muốn để Sư chọn những vị trí thích hợp cho viêc xây chùa dựng tháp10.

           

Sau Đại sư Măn Giác th́ Quốc sư Thông Biện (?-1134) là người được thái hậu thường xuyên đến trai tăng để hỏi han về Phật học. Sư họ Ngô, hiệu là Trí Không. Do kính phục sự uyên bác về Phật pháp, thái hậu đă phong Sư làm Tăng lục, ban cà sa tiá và hiệu Thông Biện đại sư. Về sau thái hậu triệu Sư vào cung, phong làm Quốc sư, hỏi han yếu chỉ cuả thiền11. Sự thông tuệ và đức độ cuả Quốc sư đă làm thái hậu thấm nhuần lẽ vi diệu cuả giáo lư Đức Phật.

          

Những hành động từ bi cuả thái hậu tuy một phần là muốn chuộc tội và cầu phúc cho con12, nhưng cái chính là nhờ ảnh hưởng cuả đạo Phật. Bà đă hiểu rơ nguồn gốc mọi tội lỗi là từ vô minh, đời người vô thường, vinh hoa phú quư chỉ phù vân, cái tâm an lạc mới đáng quư. Thái hậu từng có bài kệ Ngộ đạo “Sắc là không, không là sắc, sắc không đều không bận, mới hiểu được chân không”13.

 

Như vậy, từ khi vua Thái Tông chính thức trị v́, Linh Nhân thái hậu đă giốc tâm vào việc tu học. Bà đă góp công đức để Phật giáo phát triển cũng như làm nhiều việc thiện để sám hối những lầm lỡ trước đây cuả ḿnh. Dưới ảnh hưởng cuả thái hậu, Lư Nhân Tông cũng là vị vua sùng đạo, nhân từ, thương dân. Những năm thiên tai, mất mùa đói kém, nhà vua thường tha tội nhân, giảm tô thuế…Trong suốt thời gian nhiếp chính cuả Linh Nhân thái hậu và trị v́ cuả Lư Nhân Tông, ngoài chiến công thắng Tống oanh liệt, đất nước ta thanh b́nh, dân cư no ấm.

 

Thái hậu Linh Nhân đă ra đi thanh thản vào mùa thu tháng 7 năm Đinh Dậu (1117) khi mà trước đó vào mùa xuân năm này bà vẫn c̣n minh mẫn và với tấm ḷng thương dân vô hạn đă nhắc nhở vua Nhân Tông định rơ lệnh cấm giết trộm trâu để nông dân được yên ổn cày cấy làm ăn14.

 

Sám văn Từ Bi Thuỷ Sám Pháp có dạy:

            “Hà nhân vô tội

            Hà giả vô khiên

            Phàm phu ngu hạnh

            Vô phi thị tội”

 

Tạm hiểu là:

            “Ai mà không phạm tội

            Ai mà chẳng lỗi lầm

            Kẻ phàm phu hành động ngu si

            Cho nên ai cũng phạm tội”.

 

Là một chúng sinh, Linh Nhân thái hậu cũng không tránh khỏi lỗi lầm. Thế nhưng “ Vô biên thắng phước giai hồi hướng” (kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện), sự quay về Bến Giác với tâm vô ngă cuả Linh Nhân thái hậu không phải quá muộn màng, ngược lại đă  khiến chúng ta phải suy gẫm và ngưỡng mộ.

 

____________________________________________________________

 

1 Theo dân gian

2 Theo” Ngự chế Việt sử tổng vịnh” cuả Dực Tông Anh hoàng đế. (Việt sử tiêu án th́ chép” Nhà vua đi du quan đến làng Thượng Lôi (làng Sủi, xă Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội) thấy một người con gái hái dâu đứng nấp vào đám cỏ tranh…Theo Toàn thư và Cương mục th́ người con gái hái dâu nép vào đám cỏ lan)

3 Theo Đaị Việt sử lược vua Lư Thánh Tông lập 8 hoàng hậu.

4 Theo Toàn Thư ngoài Càn Đức, Ỷ Lan c̣n sinh thêm hoàng tử Minh Nhân vương (không rơ tên) vào tháng 2 Mậu Thân (1068).

5 Theo Hoàng Xuân Hăn - Lư Thường Kiệt - Lịch sử ngoại giao triều Lư  trang 84

6 Toàn Thư ghi nhầm 76 thị nữ

7 Hoàng Xuân Hăn – Sđd. Về sau Lư Đạo Thành được phục chức ở bên cạnh thái hậu để giúp đỡ

8 Thiền uyển tập anh trang 153 - bản điện tử -Lê Mạnh Thát dịch

9 Thiền uyển tập anh - phần Đại sư Măn Giác trang 51-52 (bản điện tử)

10 Hoàng Xuân Hăn – Sđd trang 466-467

11 Thiền uyển tập anh - phần Quốc sư Thông Biện trang 48-49-50-51 (bản điện tử)

12 Vua Lư Nhân Tông không có con trai, về sau lập con cuả Sùng Hiền hầu là Dương Hoán làm thái tử

13 Thiền uyển tập anh trang 51 - bản điện tử 

14 Toàn Thư ghi tháng 2 (trang 117 - bản điện tử), Cương Mục ghi tháng 3 (trang 150 - bản điện tử)

 

 

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Kỹ Thuật Truy Tầm

Hoàng Vân

Sưu tầm Nhạc Dân Ca

Julia Nguyễn
Xin vui ḷng liên lạc với  haphuonghoai@gmail.com về tất cả những ǵ liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 06/01/15