Home T́m Ca Dao Trang Chủ Toàn Bộ Danh Mục e-Cadao English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
Cảm Nghĩ
 
Ẩm Thực
Chợ Quê
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Trang Chủ
 

 
 

 

 
 

Bí Mật Nơi Cây Dầu Đôi

Kỳ 1

Ông nội tôi là người cuối cùng trong ḍng họ c̣n biết chữ nho. Ông có chín người con, hai trai bảy gái. Ba tôi là con trai trưởng. Cái thời của ông c̣n nặng nề trọng nam khinh nữ. Trước khi mất ông ngă bịnh một thời gian. Biết ḿnh không sống được lâu ông cho gọi tất cả những người con từ khắp nơi trở về. Sau khi dặn ḍ nhiều điều cho các con, ông đem hết số tiền dành dụm trừ đi số tiền chuẩn bị hậu sự cho ḿnh, rồi chia đều cho các con. Phần đất hương hỏa ông giao cho hai người con trai: 

Ba và chú tôi. Sau đó ông nói với tất cả các người con rằng: ông có một ít giấy tờ muốn giao lại cho Ba tôi giữ. Trong số giấy tờ đó ba tôi kể lại, có tập gia phả phần đầu viết bằng chữ nho do tiền nhân để lại, cho đến đời ông Cố của tôi phần sau viết bằng chữ quốc ngữ. Rồi ông bảo các người con đi ra chỉ giữ lại ba tôi, để dặn ḍ mấy điều mà ông Cố tôi truyền lại. Và tôi là cháu đích tôn trong họ, nên trước khi mất ba tôi gọi tôi về, truyền lại những điều này.

 



***

Những năm cuối thế kỷ mười chín và đầu thế kỷ hai mươi, người Pháp phát triển đường xá từ Phan Rang ra Thành, rồi xuống Nha Trang, ra Ninh Ḥa. Ông Cố tôi nằm trong số những người mà Pháp tuyển mộ để mở đường này. Và v́ thông thạo chữ nho cũng như hiểu biết chút ít tiếng Pháp, sau một thời gian cần mẫn làm việc, ông đă tạo nên sự tin tưởng, và trở thành một người giúp việc gần gũi với vị kỹ sư đứng đầu công tŕnh này. Trong những ngày tháng ấy, ông Cố tôi đă biết được nhiều việc, ông cho là hệ trọng, nên đă ghi lại và truyền lại cho ông Nội tôi. 

Trong số đó có ba điều chính. Thứ nhất, là Lời nguyền của người Chăm được phát hiện ở đèo Rù Ŕ và sau đó được chôn lại trên đỉnh đèo. Thứ hai, bí mật được giấu trong cây dầu đôi tại Diên Khánh. Thứ ba, kho tàng của nghĩa quân trên vùng núi Ḥn Hèo, nơi có liên hệ đến phong trào Cần Vương chống Pháp, cuối thế kỷ mười chín. Trong ba điều ấy, Lời nguyền của người Chăm, tôi đă kể lại trong truyện "Lời Nguyền Trên Đỉnh đèo Rù Ŕ".

***


Khởi đi từ ngă ba Thành chạy về hướng Nha Trang, nh́n bên tay phải du khách sẽ nh́n thấy cây dầu đôi. Cây cao nhưng tàn lá không nhiều. Đứng xa xa có thể thấy cả ngọn. Đến gần sẽ thấy rễ cuồn cuộn như những con trăn lớn uốn lượn trên mặt đất. Trên thân cây cách mặt đất khoảng một đầu người có một cái bướu lớn. Ông Cố tôi ghi lại rằng khi đường xá từ Phan Rang mở ra đến Thành, ông có nghe các vị bô lăo trong vùng kể lại rằng: Vào đầu thế kỷ mười chín cây dầu đôi chỉ có một thân cao nghệu nghễ. Sau một đêm mưa to, sấm chớp đầy trời, sáng ra mọi người thấy cây mất ngọn thân cây tét làm hai sau khi bị sét đánh. Người dân dọn dẹp khúc bị sét đánh ngă và nghĩ rằng cây sẽ chết. Vậy mà không. Cây dầu đôi lại vươn lên từ chỗ bị sét đánh, hai nhánh chọc thẳng lên trời như thách thức ông Thiên. Không biết có phải từ đó được gọi là cây dầu đôi?

Cũng có người cho rằng, cây dầu đôi có hai gốc, và lâu ngày hai thân cây dính vào nhau nên gọi là cây dầu đôi. Không biết truyền thuyết nào đúng, nhưng hơn trăm năm nay cây dầu đôi vẫn sừng sững giữa trời mặc bao lịch sử đổi thay. Giờ đây, dưới gốc phải khoảng bảy, tám người ôm mới hết, c̣n hai thân chọc thẳng lên trời th́ mỗi thân ấy phải ba, bốn người cùng nắm tay ôm không giáp ṿng. Nhiều người kể rằng, bác sĩ Yersin, người khám phá ra Đà lạt, lúc sinh thời, mỗi lần từ Nha Trang qua trại chăn nuôi Suối Dầu làm việc, khi đi ngang qua cây dầu đôi, bác sĩ Yersin thường xuống xe, để ngă mũ như chào một bậc cao niên!

Vậy cây dầu đôi có niên đại bao nhiêu? Chưa có một câu trả lời chính xác. Chuyện kể rằng, năm Quư Sửu 1793 thành Diên Khánh bắt đầu được xây dựng, sau khi Nguyễn Ánh rút quân từ Qui Nhơn về. Cả khu vực c̣n là những dăy rừng ngút ngàn. Quan đă cho lính và dân phu mở mang khu vực, tạo dựng xóm làng. Nhiều người từ miền ngoài được đưa vào lập nghiệp ở đây. Người ta cho rằng, ngay từ thời này giữa những dăy rừng già đó, cây dầu đôi này đứng vượt trội hơn hết. Đến nửa cuối thế kỷ mười chín, thành Diên Khánh đă trở thành một địa danh quen thuộc như các địa danh khác, chợ Thanh Minh, Ninh Ḥa, Vĩnh Điềm, Ngọc Hội, Lư Cấm, Vĩnh Hội...của Khánh Ḥa. 

Lúc bấy giờ, Nha Trang c̣n là một băi cát trắng mênh mông, hoang sơ với vài dăy nhà tranh lụp xụp, của ngư dân người Việt sống bên nhau bằng nghề đánh cá ở xóm Cồn. Con đường từ Nha Trang đi lên Diên Khánh lúc này chỉ mới là con đường rải đá sơ sài. Giao thông chủ yếu vẫn là con đường thủy qua sông Cái. Trung tâm buôn bán, sinh hoạt kinh tế, văn hóa tập trung tại Vĩnh Điềm Hạ. Đường liên lạc duy nhất với Huế và Sài G̣n chỉ là con đường biển. Năm 1885, quân Pháp đổ bộ lên Nha Trang, phong trào Cần Vương lan tới Khánh Ḥa. Do lực lượng địch quá mạnh, nghĩa quân Cần Vương dưới sự lănh đạo của các vị Trịnh Phong, Trần Đường và Nguyễn Khanh, được người dân ca tụng là Khánh Ḥa tam kiệt, đă phải chịu thất bại vào năm 1886. Nền đô hộ của người Pháp tại Nha Trang chính thức bắt đầu từ đây. 

Cũng như các tỉnh khác ở Trung Kỳ, Khánh Ḥa nằm dưới ách cai trị của hai thế lực: Chính phủ Bảo hộ Pháp và Chính phủ Nam triều Nguyễn. Cấp chỉ huy tỉnh thuộc Nam triều đóng tại Diên Khánh c̣n gọi là cơ quan tỉnh. Cơ quan lănh đạo của Chính phủ Pháp đóng ở Nha Trang gọi là Ṭa Sứ. Từ đó Nha Trang trở thành tỉnh lỵ của Khánh Ḥa. Nhằm phục vụ cho quá tŕnh khai thác thuộc địa, Pháp không ngừng từng bước xây dựng và mở rộng khu vực Nha Trang, làm cho nơi đây trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và xă hội của tỉnh Khánh Ḥa.

***

Cơn gió nhè nhẹ của buổi chiều tạo nên những gợn sóng nhỏ lăn tăn trên mặt con sông Cái. Mặt trời đă ngă về tây làm hực lên những áng mây hồng, phản chiếu trên sông tạo nên một h́nh ảnh rất đẹp. Viên kỹ sư Pháp và ông Cố tôi đang đi dọc bờ sông. Y nói rằng y nhớ nước Pháp. Nhớ những buổi chiều đi dọc bờ sông Sein thơ mộng. Đó là lư do dường như mỗi buổi chiều, sau khi công việc xong xuôi Cố tôi hay thấy y hay đi dạo một ḿnh. Hôm ấy như có ǵ muốn chia sẻ y đă gọi ông Cố tôi đi cùng. Cả hai sóng bước dọc theo bờ sông Cái. Sau khi hỏi han vài thứ y nói với Cố tôi rằng: con đường mở rộng từ Thành xuống Nha Trang có vài trở ngại. Tuy nhiên, có một điều làm y áy náy măi, đó là không biết có nên không, nếu phải chặt đi cây dầu đôi cao ngút để mở rộng con đường. 

Y im lặng thật lâu. Thả ḍng suy nghĩ theo từng bước chân. Rồi đột nhiên quay sang Cố tôi, y hỏi, ông nghĩ thế nào. Ông Cố tôi không biết trả lời sao cho tiện đang phân vân suy nghĩ. Bởi v́ trong ḷng ông sự hiện diện của cây dầu đôi như một nhân chứng qua bao sóng gió lịch sử. Giờ đây, nơi chân cây, c̣n cái miếu nhỏ thờ người anh hùng Trịnh Phong. Làm sao mà phá đi được! Nhưng làm sao góp ư với Y mà không để bị nghi ngờ? Cái áy náy của viên kỹ sư Pháp không phải không có lư do. Bởi nơi cái miếu nhỏ, lúc nào cũng khói hương nghi ngút.

Người ta bảo rằng: miếu này rất linh thiêng. Chính ở cái khoảng tâm linh ấy đă cắn rứt thâm tâm của viên kỹ sư này. Y không phải là mẫu người của tâm linh. Y trưởng thành trong cái nôi của công nghệ, được học tập kiến thức từ trường kỹ thuật. Tuy nhiên, có nhiều việc mà y đă từng thấy tại Phi châu, trong công việc của một kiến trúc sư đă làm y thay đổi. Ngày ấy, khi c̣n là một kỹ sư cầu đường mới ra trường, với ḷng ham mê đi đó đi đây y đă hăng hái đi nhận nhiệm vụ tận Phi Châu. Công việc của y là chỉ huy những công tŕnh hạ tầng, xây dựng đường xá, cầu cống cho công việc đi lại được dễ dàng, và cũng để phục vụ cho mẫu quốc trong việc khai thác tài nguyên khoáng sản và chuyên chở về những hải cảng một cách thuận lợi. 

Trong một công tŕnh dựng một con đường lớn, băng qua nơi chôn cất của một bộ lạc thổ dân. Nếu làm con đường ṿng, nó sẽ phải băng qua một khu đầm lầy rộng lớn sẽ tốn nhiều vật liệu. Và dĩ nhiên thời gian thực hiện sẽ lâu hơn nhiều. Sếp của y quyết định bằng mọi cách phải thực hiện con đường thẳng. Trong quyết định này thổ dân đă chống trả kịch liệt, v́ con đường phải băng qua nơi thờ phượng, chôn cất của những người đă khuất của thổ dân. Bằng sức mạnh của ṇng súng, người Pháp dễ dàng dẹp tan sự chống trả kịch liệt của họ. Tuy nhiên không phải dễ dàng để họ khuất phục. Những công đoạn làm xong ban ngày, ban đêm thổ dân phá đi. Chuyện cứ tái diễn nhiều lần, người Pháp quyết định áp dụng bàn tay sắt và canh giữ nghiêm ngặt hơn vào ban đêm. Và dĩ nhiên, máu đă đổ xuống của cả hai phía và hận thù ngày càng dâng cao. Trong lúc công tŕnh đang xây dựng, nhiều việc kỳ bí đă xảy ra. Chiếc cầu không lớn lắm, bắt ngang ḍng sông nhỏ trên con đường ấy phải xây đến lần thứ ba mới hoàn tất

Kỳ 2

Lần thứ nhất, một tai nạn khủng khiếp khi hai nhịp cầu nối liền với nhau bị sụp xuống, dẫn đến cảnh người chết kẻ bị thương la liệt máu chảy lênh láng khi một nhịp cầu đổ nghiêng, đè xuống hàng trăm người đang thi công. Tiếng rên la thảm khốc. Và từ hôm đó, đêm nào nằm ngủ y cũng mơ thấy những tiếng kêu cứu hăi hùng. Có khi là những tiếng hú từ cơi xa xăm vọng về.

Lần thứ hai, khi cầu sắp hoàn tất th́ mùa nước lũ kéo về, và như chưa từng có trong lịch sử, cơn lũ cuốn phăng những chân cầu đang xây dựng và cả những ǵ mà người Pháp đă xây dựng trong vùng. Thế là đoàn của y phải làm lại hoàn toàn, từ đồ án thiết kế đến chi tiết thời gian xây dựng.

Lần thứ ba, khi cây cầu hoàn tất, lẽ ra y được về Pháp nghỉ hè nhưng cơn bệnh bất ngờ đă quật ngă y. Một căn bệnh quái lạ: ban ngày nóng bức nhưng y run lên cầm cập; ngược lại, ban đêm khí lạnh từ núi rừng lan tỏa vậy mà y lại tháo mồ hôi hột. Bác sĩ không t́m ra căn bệnh. Y nằm liệt rất lâu, sức sống xuống đến mức cùng kiệt chỉ c̣n làn da bọc xương như những kẻ nhịn đói hằng tháng trời. Đến nỗi về sau có một người thổ dân, một bộ hạ của y tỏ ḷng thương hại mách nước rằng: y phải cúng giải thiêng, mới thoát khỏi những tai ương, v́ y và những người khác đă san phá những phần mộ và nơi chôn cất của những thổ dân. 

Những oan hồn đó đă vây lấy và quật y gục ngă. Khi đang trong cơn bệnh chỉ nằm chờ chết y đành nghe theo. Và lạ thật sau khi cúng kính theo quy tắc của thổ dân, người thầy cúng mà bộ hạ của y kiếm về từ một vùng khác, đă cho y uống một thứ nước xanh lè, đậm đặc được chiết ra từ những loài cây ǵ đó. Ông ta dặn y uống mỗi ngày bốn lần, mỗi lần gần 1/3 lít. Chỉ hai ngày sau y dần dần khỏe lại. Y uống tiếp thứ nước ấy đến ngày thứ bảy th́ bệnh t́nh như chấm dứt hẳn.

Từ đó, y trở thành một con người c̣n ḷng tin vào đất trời, vào những oan hồn đă khuất. Đó là lư do y ngại ngùng phá cây dầu đôi. Mà thực ra mấy tuần trước y đă có ư định phá cây dầu đôi này. Y đă dùng một mũi khoan lớn, khoan xuyên thân cây, từ bên này qua bên kia tạo nên một lỗ hổng xuyên suốt. Đêm ấy y nằm mơ. Trong giấc mơ y thấy chân tay ḿnh như bị cột tại gốc cây dầu đôi. Từng giọt mủ cây chảy ra chạy dài từ mắt y trở xuống làm y không mở mắt được. Và chung quanh y những bóng ma đang nhảy múa la hét liên hồi. Khi bật dậy cả người vă đầy mồ hôi trong một tâm thần hỗn loạn.

Mấy ngày nay y nằm thiêm thiếp như chờ chết. Cơn bệnh cũ từ Nam Phi tái phát. Y run cầm cập ngay cả trong những ngày nắng quái, trong lúc miệng khô khốc nứt nẻ. Mỗi đêm y đều nằm thấy những cơn mộng dữ. Y cho người gọi ông Cố tôi tới kể cho ông nghe những giấc mơ hăi hùng. Y bảo trong giấc mơ y thấy một người trung niên Á châu, râu quai nón dáng dấp bặm trợn, nơi thắt lưng đeo một đoản kiếm. Ông ta bảo rằng: đây không phải là nơi của y. Rồi bỗng nhiên ông ta nắm chuôi kiếm đưa về phía trước. Y sợ hăi lùi về phía sau tay chụp khẩu súng ngắn. Nhưng tất cả đă muộn màng. Lưỡi kiếm quét ngang mặt, nhưng y không cảm thấy đau đớn ǵ, mà nghe một mùi tanh lợm giọng quét ra từ đoản kiếm và máu từ đầu kiếm tuôn trào quét vào mặt y. Chẳng bị thương tích ǵ y chỉ bị ngộp thở khi làn máu phun mạnh từ đoản kiếm quật vào mặt. Y cuối xuống van lạy. Người trung niên đó bỏ đi không thèm quay lại. Giấc mơ ấy cứ hiện ra hằng đêm. Thấy y kiệt quệ một cách đáng thương, ông Cố tôi gợi ư t́m một thầy cúng trong vùng để cúng cho y. Y đồng ư. 

Ông tôi kiếm một thầy pháp nổi tiếng. Sau khi nghe kể hết sự t́nh. Ông thầy pháp ngồi trầm ngâm suy nghĩ. Một hồi sau ông lên tiếng. "Tôi không muốn chữa bệnh cho những kẻ xâm lược. Tuy nhiên theo ông nói hắn không phải là một con người tàn ác. Tôi sẽ cố gắng. Nhưng tôi biết chắc một điều: hắn c̣n giữ rất nhiều thứ thu vét được. Hắn phải trả lại hết. Không phải trả cho tôi, cho ông, mà là gởi trả lại cho vùng đất này hay một nơi nào đó mà hắn muốn. Ngày nào hắn chưa trả nợ đó vẫn c̣n đè nặng trên vai, những oan hồn u uẩn vẫn c̣n bám víu theo. Hắn sẽ từ từ kiệt quệ mà chết. Nếu muốn sống điều kiện duy nhất là phải thành thật, trả lại tất cả và ra khỏi nới này với hai bàn tay trắng. Tôi sẽ trấn một lá bùa. Hắn phải đem lá bùa này cất cùng chung với tài sản đang có. Cất ở đâu tùy hắn. Và tài sản này măi măi không bao giờ hắn nên nghĩ tới. Ông về nói lại như vậy khi nào hắn đồng ư th́ hăy t́m tới tôi."

Ông Cố tôi thuật lại lời ông thầy pháp, trong khi viên kỹ sư nằm rên hừ hự như một kẻ sắp rời khỏi trần gian. Nhưng đôi mắt chợt sáng lên, khi nghe ông Cố tôi có nhắc đến những tài sản mà y thu vét từ bao lâu nay. Nghe xong y gục xuống thiểu năo. Y gật đầu đồng ư. Chiều hôm đó, ông Cố tôi lại đi t́m ông thầy pháp và báo tin. Ông ta bảo ông tôi chờ. Gần nửa giờ sau ông đem ra một cái gói nhỏ màu vàng. Ông bảo trong đó có lá bùa. Không ai được phép mở nó ra. Nếu không người mở ra sẽ mang nhiều bệnh tật và tai ương, không chỉ một ḿnh mà cả một gia tộc của người đó cũng phải gánh chịu. Ông dặn ông Cố tôi về giao cho viên kỹ sư người Pháp và cho y biết như vậy. 

Trưa hôm sau viên kỹ sư Pháp lại kêu ông Cố tôi lên, miệng th́ thào: "Tôi đă bỏ tất cả tài sản cùng lá bùa vào trong cái ống này". Y đưa cái ống lên và lắc lắc. Ông Cố tôi nghe như có cái ǵ chuyển động trong cái ống. Tiếng phát ra là từ những vật rắn chắc va chạm với cái ống đồng. Cái ống tṛn, dạng như cái ống thổi lửa bằng tre của người nhà quê, dài khoảng hai gang tay, đường kính khoảng hơn bốn xăng ti mét. Y nói rằng: tất cả những tài sản mà y kiếm được tại Châu Phi và Đông Dương này, đều nằm trong đó. 

Tuy nhiên bây giờ chúng không c̣n ư nghĩa ǵ cả. Y phải sống phải về lại Pháp. Y không muốn cuộc đời tàn tạ chôn vùi nơi xứ sở khỉ ho c̣ gáy này. Ông Cố tôi chỉ lặng im. Một hồi sau y cho biết: đó chỉ là những viên đá nhỏ có màu. Một số có màu trăng trắng, số lớn c̣n lại có màu xanh lục và hồng tía. Bên trong kèm theo lá bùa của ông thầy pháp, y c̣n viết những ḍng chữ trên một trang giấy vàng xỉn, bỏ chung với số tài sản và lá bùa vào trong cái ống đồng. Tối hôm đó người thầy pháp đến làm phép và cúng cho y.

Sáng sớm hôm sau, y cho gọi ông Cố tôi lên và bảo cùng đi ra chỗ cây dầu đôi. Y đứng lên tự ḿnh di chuyển dù rất nặng nhọc. Rồi đích thân Y thắp hương lầm bầm khấn nguyện. Trong lúc nh́n y ông Cố tôi chợt nh́n thân cây dầu đôi đang rỉ mủ. Chỗ thủng mà y khoan hôm trước đă biến mất. Một phần vỏ cây to bằng bàn tay, bịt lại bên ngoài thân có dấu đinh đóng chặt. Một hàng mủ c̣n mới tinh nguyên đang rỉ xuống, như một con rắn cái đuôi quấn vào bộng cây, cái đầu chúi mạnh xuống dưới. Y phóng tia nh́n rất sắc sang ông Cố tôi, rồi nh́n chỗ mủ đang rỉ ra, im lặng. Bỗng nhiên y quỳ xuống vái mọp, hai tay đặt hẳn lên mặt đất. Y xá ba xá, thành khẩn như một người mộ đạo chân chính. Thật lạ lùng, ông Cố tôi nh́n thấy chỗ mủ đang rỉ ra chợt ngưng ngang và nó rút trở lại như con rắn chui tuột vào chỗ có dấu đinh đóng chặt. Ông dụi mắt như không tin vào những ǵ ḿnh vừa nh́n thấy. Cái lỗ mà y khoan hôm nào, lành lặn trở lại thành một đóm tṛn như cổ chai, sần ś như một cục u trên thân cây dầu đôi!

Không bao lâu sau viên kỹ sư Pháp khỏi bệnh y trở về Pháp. Vài ngày sau một viên sĩ quan người Pháp khác thay thế, đường xá hoàn thành xuống Nha Trang, qua khỏi đèo Rù Ŕ, chạy dài ra đến đèo Rọ Tượng ở Ninh Ḥa, th́ Cố tôi xin nghỉ việc. Tôi về, từ trên mây. Về một cách vội vă ở lại chỉ trong ṿng một tuần. Sau khi nghe Ba tôi giao lại gia phả của ḍng họ tôi đă đọc sơ qua. Tôi đă đến đă quan sát cây dầu đôi. Thấy có một cái bướu lớn, chỗ cái bướu cao hơn đầu người, chứ không phải chỉ khoảng hơn một thước như Cố tôi thuật lại. 

Không biết có phải cái bướu hiện giờ và cái bướu mà Cố tôi nhắc đến là một? Tôi đă sờ lên vết sẹo của cây và thầm nhủ rằng: Cây đă mang những vết sẹo đời để cho người sống sót. Tôi chụp vài tấm h́nh. Tôi lấy cận ảnh cái bướu như một chút kỷ niệm. Rồi ṿng tay ra ôm lấy thân cây, như ôm một thân t́nh đă xa cách rất lâu bây giờ mới gặp lại. Tôi áp tai ḿnh vào lớp da sần sùi nghe như có tiếng rộn ràng di chuyển của nhựa sống. Rồi từ giă cây dầu đôi như từ giă một người thân thiết mà biết chắc rằng: phải lâu rất lâu tôi mới cơ hội trở về.

Lạ lắm, khi tôi xuống Nha Trang rửa những tấm h́nh đă chụp. Không thấy cái bướu đâu cả. H́nh tôi chụp cận ảnh cái bướu bây giờ lại thấy lớp vỏ lành lặn và tương đối bằng phẳng chứ không gồ ghề nhô cao. Tôi quyết giữ điều lạ này cho riêng ḿnh. Tuy nhiên gần đây dù ở xa nửa ṿng trái đất, tôi có nghe tin người ta đang bàn thảo, bứng cây dầu đôi này trồng lại một nơi khác, có thể gần thành Diên Khánh cũ, để giải phóng mặt bằng. Tôi nghe một niềm đau dấy lên từ phế phủ. Tôi chỉ mới biết cây dầu đôi sau chuyến trở về ấy, nhưng lại thấy cây như một người thân quen, với thân vươn cao, tán lá bung ra như một chở che, rộng lượng. 

Với tôi cây dầu đôi đă chứng kiến nhiều xáo trộn của cuộc đời. Cây đứng sừng sững như một chứng nhân của đất trời Diên Khánh, đă chứng đă nghe bao cảnh đổi dời. Cây cũng đă buồn bă dơi theo bao trận chiến ác liệt giữa quân Tây Sơn với quân Nguyễn Ánh. Cây cũng lắng nghe tiếng reo ḥ vang dậy của nghĩa quân, dưới sự thống lănh của B́nh Tây đại tướng Trịnh Phong, dùng thành Diên Khánh làm Tổng hành dinh để chống Pháp trong phong trào Cần Vương, do vua Hàm Nghi khởi xướng. Cây cũng đă mưng mủ lắng nghe tiếng ḷng của bao người dân nổi trôi theo vận nước.

Tôi tự hỏi: Có cần không, cho chút mặt bằng, mà phế bỏ một chứng nhân im lặng của lịch sử?

 

Lời Nguyền Trên Đỉnh Đèo Rù Ŕ

Tôi khom người xuống. Chiếc xe đạp đổ đèo mỗi lúc một nhanh. Đường vắng. Đến gần khúc quẹo đầu tiên, tôi đạp nhẹ chân thắng phía sau vừa đủ để bẻ một ṿng cua thật hách. Xe tiếp tục đổ nhanh, đợi gần đến miếu, tay bóp thắng trước chân đạp thắng sau, nghe phựt, rồi phựt, bóp mạnh thắng tay, gót chân phải đè xuống thắng chân phía sau. Tất cả đều nhẹ hều, chiếc xe như một mũi tên bắn cứ lao nhanh về phía trước, tôi gập người xuống đến mức tối đa, lạng xe qua khúc quành, chiếc xe vượt khỏi tầm kiểm soát của tôi, lao thẳng giữa hai bệ chắn, mũi tên đă đạt tốc độ tối đa vút về phía trước. Bên dưới là thung lũng đen ng̣m. Tôi bay, bay, bay... từ trên cao độ gần năm mươi mét, so với mặt đường bên dưới chân đèo. Tôi nhắm mắt, hét lớn. Vùng dậy... Cả người vă mồ hôi. 

Giấc mơ trở đi trở lại nhiều lần, làm cho tôi dù cố gắng quên đi lời nguyền, nhưng không thể nào thoát khỏi. Vâng, đó là một lời nguyền hết sức cay độc, từ xa xưa lắm đă được ông Cố tôi đích thân chôn xuống trên đỉnh đèo Rù Ŕ. 



***

Ba Má tôi quyết định đưa gia đ́nh về sống tại một vùng thôn quê hẻo lánh này từ đầu năm 1970. Từ đỉnh đèo Rù Ŕ nh́n về hướng đông bắc, một eo biển nhỏ hiện giữa những đồi núi chập chùng. Eo biển đó là eo biển Lương Sơn, trên đường ra Ninh Ḥa. Làng quê đó chính là làng Lương Sơn như mọi người thường gọi. Đây là một làng nhỏ cách chân đèo Rù Ŕ khoảng ba km và trung tâm thành phố Nha Trang chừng mười hai km. Lưng dựa vào núi mặt nh́n về hướng biển, nên dân trong làng sống chủ yếu vào nương rẫy trên núi và tôm cá ngoài biển khơi. 

Từ lúc hiểu được, tôi đă nghe đă biết về những tai nạn thảm khốc trên đèo Rù Ŕ. Lên sáu, bảy tuổi, tôi đă nghe những lời than khóc buồn bă từ thân nhân của những người mất bị tai nạn trên vùng đèo này. Lớn lên tí xíu tôi đă chính mắt nh́n thấy những thân thể đầy máu sau những tai nạn nơi đây. Khi tôi bắt đầu vào Trung học, mỗi ngày dắt xe đạp lên đèo, xổ đèo, những h́nh ảnh đó luôn ám ảnh tôi. Tôi lo một nhưng ba má tôi lo đến mười.

Mỗi năm ít nhất một vụ tai nạn khủng khiếp xảy ra. Ngôi miếu nhỏ nằm giữa lưng chừng đèo ở mặt Nam, luôn là nỗi ám ảnh mỗi khi một ḿnh dắt xe đạp đi qua. Tôi sợ nên thường đi chung với các bạn. Hoặc khi đạp xe đến tận chân đèo, nhưng chưa thấy ai thế là ngồi chờ. Chờ có người nào đó cùng dắt xe lên đèo. Năm 1983 số tai nạn quá nhiều, mà hai tai nạn thảm khốc, một vào giữa năm xảy ra ngay miếu thờ và một vào cuối năm những ngày cận tết, bên kia dốc đèo tại hướng ngă ba: một đường lên Thành và đường hướng kia về Nha Trang. Tai nạn này đă cướp đi mất một người bạn mà tôi quen biết học trên tôi một lớp. Có lẽ nhiều tai nạn quá khủng khiếp xảy ra liên tiếp, và chúng tôi cũng đă khôn lớn, Ba tôi, quyết định kể một chuyện hệ trọng mà ông giấu từ lâu. Câu chuyện đó liên quan đến ông Cố tôi và lời nguyền cay độc ngày xưa ấy.

***

Ba tôi kể rằng, vào những năm đầu 1900's, người Pháp mở đường xá từ miền Nam ra tận miền Trung. Mở ra rộng hơn tạo cho môt vóc dáng mới cho quốc lộ một. Ông Cố tôi, là một người nhà quê giỏi chữ nho từ nhỏ, nhưng thi nhiều lần không đỗ nên ông chỉ làm một ông giáo làng. Nhưng điều ngạc nhiên là không biết ông học từ đâu, mà có thể đọc và hiểu được ít nhiều tiếng Pháp. Và khi người Pháp vừa ép buộc vừa tuyển mộ khắp nơi để mở đường, v́ kinh tế gia đ́nh ông cố tôi quyết định gác nghề dạy học và tham gia đoàn người đi mở đường này. Thông thạo chữ nho và hiểu ít nhiều tiếng Pháp ông được giao cho việc phụ sổ sách. Dần dần, tạo được tín nhiệm với viên sĩ quan Pháp đứng đầu công tŕnh này, ông được giao phó nhiều công việc quan trọng hơn. Cuối cùng ông được trọng dụng như là một người giúp việc gần gũi và tín cẩn.

Từ thành Diên Khánh đường được mở rộng xuống Nha Trang. Rồi từ Nha Trang ra Ninh Ḥa. Nỗi vất vả của những người mở đường này là đoạn đèo Rù Ŕ. Đường dốc quanh co. Không ít người đă bỏ ḿnh ở đó. Một hôm trong lúc đang đào đất, những người phu đă phát hiện một hầm lớn bên chân đèo phía Bắc. Khi ông Cố tôi đến, người ta phát hiện trong hầm này có nhiều lọ cổ. Trong đó có một cái lọ lớn và mười cái lọ nhỏ hơn. Tất cả đều làm bằng sành. Cái lọ lớn cao hơn nửa mét màu xanh lá cây đậm, dạng như cái trống chính giữa ph́nh hai đầu hơi nhỏ lại. 

Trên mặt lọ có cái nắp đậy kín không một khe hở. Với kích cở và h́nh dáng này, khi tôi c̣n nhỏ nghe mọi người gọi là cái thạp hay khạp. Xung quanh thân lọ, nửa dưới là những hoa văn phần trên là những h́nh thù nửa thú nửa người trông rất kỳ quái. Mười ba cái lọ c̣n lại cùng một kích cở cao khoảng ba tấc. Dưới chân thật nhỏ rồi ph́nh ra lớn hơn khi lên cao. Chỗ ph́nh cao nhất khoảng hai phần ba từ chân lọ. Phần trên cùng hơi túm lại nhưng vẫn lớn hơn phần đáy. Lọ không có h́nh thù quái gở, nhưng ngược lại là một màu đỏ sẫm trên khắc những hoa văn tỉ mỉ. Tất cả đều có nắp đậy và dán kín. 

Không ai biết bên trong lọ có ǵ. Ông Cố tôi cho tŕnh lên viên sĩ quan người Pháp. Lúc đó viên sĩ quan này đang trên đường từ Phan Thiết ra. Ba ngày sau y mới được dịp chiêm ngưỡng những chiếc lọ cổ quái này. Tối hôm đó vị sĩ quan cho người mở ra. Có hai người Việt Nam được chứng kiến, người thông dịch và ông Cố tôi. Bắt đầu từ cái lọ nhỏ. Thoạt đầu không làm sao mở được cái nắp lọ. Một chất keo đặt biệt đă dán kín không một khe hở. Vị quan người Pháp được cố vấn là nên nung nó lên rồi mới mở, nhưng cũng không thành công. Sau đó v́ nóng ḷng chiếc lọ bị đập bể trên miệng. 

Bên trong chẳng có ǵ ngoại trừ một ít tro xam xám. Cái thứ hai cũng thế. Cái thứ ba cũng thế. Viên sĩ quan Pháp ra hiệu ngừng. Đến lượt chiếc lọ lớn, hai tay cầm hai đầu y giơ lên rồi rung nhè nhẹ. Bên trong dường như có tiếng ǵ khua động nhẹ nhàng. Tuy nhiên cũng không cách nào mở được nắp lọ. Vị quan Pháp cho dừng tay và sai thủ hạ t́m cách khoang miệng lọ. Khi miệng lọ được mở ra, hai miếng da dày màu xám đen chồng lên nhau cuốn tṛn lại. Ngoài ra không c̣n một thứ ǵ khác. Mọi người đều ngạc nhiên nhất là viên sĩ quan Pháp. Ông cầm lên ngắm nghía rồi trải hai miếng da thú lên bàn. 

Mỗi miếng da có chiều dài khoảng gần một thước, chiều ngang khoảng ba tấc. Khó đoán biết được là da dê hay da trâu. Miếng da thứ nhất có nhiều hàng chữ nhỏ dọc ngang. Miếng thứ hai vẽ những h́nh thù quái gở. Những h́nh người nam cụt đầu những h́nh người nữ không lành lặn. Đằng sau miếng da thứ hai như có dấu triện màu đỏ và bốn con số viết rời nhau. Tất cả nh́n nhau im lặng. Viên quan Pháp hỏi ông Cố tôi về ư nghĩa của hai tấm da này, v́ biết ông Cố tôi thạo chữ nho. Ông Cố tôi lắc đầu. Đó không phải là tuồng chữ nho. Tuy nhiên trong ông bừng lên một ư nghĩ. Đó là chữ của người Chăm Pa. Và ông tŕnh bày ư nghĩ của ḿnh. Muốn hiểu phải t́m cho bằng được những người c̣n đọc được lối chữ cổ này. Và sau đêm đó ông Cố tôi xuôi Nam mang một sứ mệnh quan trọng trong đời. 

*** 

Những h́nh nhân kỳ dị không thể là những điềm lành. Biết nhưng vẫn phải đi. Tôi và bốn người tùy tùng lên ngựa ngay sáng hôm sau ngược về hướng Phan Rang. Một người mang chiếc bao dày trên lưng bên trong chứa hai miếng da kỳ dị. Ba người c̣n lại mang lương thực. Tôi như một người trưởng nhóm. Đi nhưng trong ḷng không chút hy vọng. Ngay ở ngày thứ hai một chuyện lạ đă xảy ra. Người mang hai tấm da đột nhiên ngă quỵ sau khi nghĩ trưa. Anh ôm bụng mặt mày tái ngắt. Một hồi sau anh ngưng thở. Sự việc xảy ra quá nhanh mà không ai trong đoàn biết lư do tại sao và phải làm ǵ. Chúng tôi chôn anh ta lại và chiếc bao được giao lại cho một người khác trước khi tiếp tục lên đường. 

Chúng tôi đến Phan Rang vào một buổi chiều mưa buồn bă. Mưa ră rích suốt đêm. Sáng hôm sau vào chợ gặng hỏi nhiều người. Hầu như ai cũng lắc đầu không hiểu. Có người chỉ cho chúng tôi đi về những khu xa vắng khác ḍ t́m. Chúng tôi đi xa hơn về phía Nam. Ḷng vẫn c̣n mang một chút hy vọng. Qua nhiều ngày t́m kiếm hỏi thăm vô vọng, lại một việc kỳ lạ khác xảy ra. Người mang hai miếng da đó bị tiêu chảy. Chúng tôi kiếm những người thầy thuốc trong khu vực gần đó vẫn không chữa nỗi. Anh ta ra đi mà đôi mắt c̣n trợn lên một màu trắng dă. 

Hai người c̣n lại không ai dám mang hai miếng da này. Ba chúng tôi đều nghĩ, những chuyện xui xẻo chắc phải đến từ hai miếng da này. Tối hôm đó cả ba nh́n chiếc bao đựng hai miếng da mà ngán ngẩm. Ai cũng mang trong ḷng những ư nghĩ riêng tư nhưng không nói ra. Tôi quyết định mang hai miếng da này dù ǵ ḿnh cũng là trưởng đoàn. Tôi khấn vái thiên địa thánh thần cùng linh hồn những người đă khuất rằng: chúng tôi chỉ phụng mệnh đi t́m ư nghĩa những ǵ ghi lại trên hai miêng da này mà thôi. Chúng tôi không có một ư nghĩ ǵ xấu cả. Xin thiên địa thánh thần phù hộ cho chúng tôi được b́nh an tai qua nạn khỏi mà trở về với gia đ́nh. Chúng tôi sẽ cúng tạ trời đất khi an toàn trở về. 

Vẫn tiếp tục ḍ hỏi. Vẫn vô vọng. Lương thực cạn dần. Hy vọng đă lùi xa. Chắc phải quay về. Về? làm sao ăn nói với viên sĩ quan? Sáng hôm cuối cùng trước khi trở về chúng tôi chậm chạp trở ra con đường lớn. Bất ngờ gặp một bà lăo, người khô khốc như một thanh củi đang ngược hướng chúng tôi. Điều ngạc nhiên là khi bà cụ chận chúng tôi lại và hỏi rằng: có phải chúng tôi từ xa đến và đang đi t́m một cái ǵ đó phải không? Tôi thuật lại cho bà cụ nghe đầu đuôi câu chuyện. Bà nh́n cả ba rồi nh́n tôi kỷ hơn. Sau đó bảo ba chúng tôi đi theo bà. Bà dẫn chúng tôi qua một đoạn đường khá xa, dẫn tới một quả đồi nhỏ. 

Trên đồi là một nóc nhà cũ kỹ và có phần xiêu vẹo. Chúng tôi được bảo ngồi chờ phía trước sân. Bà lăo đi ra sau th́ thầm chuyện ǵ đó với ai khá lâu. Một lúc sau một người đàn ông già nhỏ thó, cḥm râu bạc trắng dài ngang tận bụng đi lên. Ông cụ gọi chúng tôi ra sau, mời chúng tôi ngồi xuống những ḥn đá được kê làm ghế dưới một tàn cây. Tôi tháo chiếc bao lấy hai miếng da ra. Ông cụ nh́n ngang thất sắc. Một hồi sau định thần ông cụ bắt đầu kể...

Tôi cũng không biết chi tiết những ḍng chữ nhảy múa này. Ông chỉ vào tấm da thứ nhất. Rồi tiếp. Nhưng ư nghĩa của nó và những h́nh thù trong tấm da kia th́ tôi hiểu. Bộ tộc chúng tôi khi nh́n vào h́nh ảnh vẽ trên miếng da đó, hiểu được người vẽ muốn nói ǵ. C̣n tấm da có viết chữ... Ông lăo như nghẹn lời. Đôi mắt buồn hiu như muốn khóc. Trời đứng gió. Ai nấy nhễ nhại mồ hôi. Nh́n xa xa những đồi cát như bốc lên từng đợt, từng đợt lửa, muốn thiêu đốt cả một vùng rộng lớn. Ông già đưa tay quệt mồ hôi rồi kể tiếp...

Tôi là một đứa trẻ mồ côi. Tôi sống với Thầy tôi khi c̣n nhỏ lắm. Thầy tôi không dạy tôi những chữ cổ này. Ông dạy tôi thứ chữ mới mà người ta đang dùng bây giờ. Tôi học được nhiều điều ở thầy từ việc thờ phượng cúng bái, đến việc ăn ở; từ chuyện lịch sử hưng thịnh đến sự suy vong của Chăm Pa nói chung và của bộ tộc tôi nói riêng. Khi tôi khôn lớn thầy bảo: nếu một mai ông mất hăy đem tất cả gia sản trong cái ḥm gỗ mà đốt đi với ông. Tôi cúi đầu vâng dạ. Tôi cũng không hỏi Thầy là trong đó có chứa đựng những ǵ. 

Chúng tôi ngồi im lặng, nhưng cảm nhận được dường như ông già đang nấc lên theo từng hơi thở. Sau đó vài hôm Thầy tôi bảo: trong cái ḥm gỗ đó không có tài sản ǵ quí giá về tiền bạc, nhưng nó chứa đựng mồ hôi nước mắt và máu của ḍng họ ông. Đó là những bộ da thú ghi chép về gia phả của Thầy. Một gia phả đẫm máu. Những người đi trước muốn ông phải trả thù. Nhưng v́ biết ḿnh là hậu duệ cuối cùng và không làm được, nên ông muốn đốt đi những tấm da thú ghi lại những máu và nước mắt ấy. Thầy tôi dạy rằng: hơn hai trăm năm mươi năm trước giặc phương Bắc đă đánh vào tận nơi này. Vua của chúng tôi v́ thế yếu đầu hàng và đồng ư dâng đất để cầu ḥa. Trước khi rút lui nhiều phần thành quách bị đập phá. 

Những vị tướng lănh và thuộc hạ của họ dù đă quy hàng vẫn bị đưa lên ngọn đầu đài. Chỉ riêng gia tộc ông có tất cả mười người bị chém cùng một kiểu, một dao ĺa đầu. Người phương Bắc nói rằng: chém để làm gương! Ngày mà họ bị đưa lên ngọn đầu đài là một ngày đen tối trong lịch sử Chăm Pa. Sau đó, rất nhiều thanh niên bị bắt làm nô lệ. Nhiều phụ nữ bị hành hạ bị bắt đi làm những kẻ hầu. Sử sách người Chăm Pa có ghi chép, số người bị chết trong trận chiến bị chém sau khi quy hàng, bị bắt đi làm nô lệ không dưới nửa vạn. Tiếng khóc than oán hờn dậy đất. Nước mắt ông lăo trào ra theo từng lời kể, cùng với mồ hôi, chảy xuống thành từng ḍng. Ba chúng tôi cũng không cầm được nước mắt. 

Trước khi sứ thần chính thức mang lệnh Vua dâng đất cho giặc phương Bắc, vị Vua của chúng tôi đă cho người chuẩn bị rất kỷ càng. Vua sai người viết một lời nguyền trên một tấm da thú. Tấm thứ hai vẽ lại những cảnh chém đầu mà giặc phương Bắc gây nên cùng những cảnh phụ nữ bị làm làm nô lệ. Đây chính là hai miếng da lịch sử mà thầy tôi kể lại vào những ngày cuối đời. Người viết lời nguyền này là một vị pháp sư nổi tiếng cả nước lúc bấy giờ. Thầy đă dạy rằng: tấm da thú ghi lại lời nguyền được chôn ở một nơi hẻo lánh. Để xuôi về phương Nam người ta phải bước qua nó. Vị Vua của chúng tôi hiểu rằng ḿnh đang trong thế yếu. Trước sau đất đai này bá tánh này cũng sẽ rơi vào tay giặc. V́ thế lời nguyền có chủ ư mong người phương Bắc đối đăi tử tế với bá tánh chúng tôi. Tôi không nhớ chính xác từng chữ. 

Đại ư lời nguyền nói rằng: "mai này khi bất cứ ai vượt qua lời nguyền để xuôi về Nam, người đó phải có một tấm ḷng rộng mở, phải sống tử tế với người khác. Là dân thường, sau khi bước qua lời nguyền này mà ḷng của họ c̣n mang những dă tâm, th́ chính bản thân hay người thân sẽ bị bao nhiêu điều xấu xảy ra, có khi phải bỏ xác nơi đèo heo gió hút này. Là quan, sau khi bước qua lời nguyền xuôi về Nam, th́ phải có một tấm ḷng bao dung mới mong giữ được ḥa thuận trong bá tánh, mới giảm được máu và nước mắt của dân t́nh. Nếu làm trái lại, ḍng họ hay bá tánh dưới sự cai quản của người này phải gánh chịu những hậu quả trùng trùng. Là Vương, sau khi bước qua lời nguyền này để xuôi Nam, ḷng Vương phải như trời biển, thương dân như thương con, đối với kẻ cựu thù như đối với trăm họ của chính ḿnh, cứu vớt những người cùng khổ bất chấp họ là ai; phải mang lại cơm no áo ấm cho người người, th́ mới mong xă tắc vững bền, giang san mới hưng thịnh.

Ngược lại, là Vương mà ḷng dạ hiểm độc, coi bá tánh như ngọn cỏ xem kẻ cựu thù như loài thú, trong ḷng chỉ nghĩ đến hận thù, th́ muôn đời lời nguyền vẫn c̣n đó. Máu của bá tánh không bao giờ ngưng chảy. Máu sẽ chảy dài từ nơi này đến bất cứ nơi nào mà có dấu chân của người hiểm độc đứng đầu xă tắc đă bước qua. Và chính gia đ́nh hay hậu duệ của Vương phải gánh lấy những điều tệ hại nhất... Trong bá tánh, ai có lỡ tay đào thấy lời nguyền phải chôn ngay lại tức khắc, nếu khôn hậu quả sẽ không lường"... Sau đó, nhà vua cho làm một buổi lễ tế thần linh. Trong buổi lễ đó, hai tấm da được đặt vào trong cái lọ lớn. Vị Pháp sư cho rằng: phải có người theo giữ lời nguyền này th́ lời nguyền mới măi được linh thiêng. Nhà vua nghe theo và lựa chọn mười ba dũng sĩ dám hy sinh v́ bá tánh. Nhà Vua bảo đảm bổng lộc cho gia đ́nh họ đến suốt đời. 

Hôm đó, trời nóng như thiêu đốt. Đến gần giữa ngọ khi vị pháp sư tụng niệm những điều bí ẩn vừa chấm dứt, những hồi trống rền ră gióng lên, mười ba dũng sĩ chuẩn bị bước lên giàn thiêu th́ gió ở đâu bỗng nổi lên ào ạt. Cờ phướn bay phần phật như muôn ngàn âm binh đang lũ lượt kéo về. Những hồi trống chấm dứt gió mới ngưng. Vạn vật như im lặng. Mười ba dũng sĩ, từng người, từng người bước lên giàn thiêu. Đó đây tiếng thút thít của các người thân cùng những người tham dự, nhỏ nước mắt cho những người hy sinh v́ đại nghĩa. Khi họ bước lên giàn thiêu, cả mười ba người cùng đứng trong thế tấn, nh́n xuống cả quảng trường rộng với một sự b́nh thản lạ lùng. 

Một viên quan đọc những lời châu ngọc của Vua, ca tụng ḷng hy sinh của họ cho bá tánh. Rồi lửa bốc lên, bốc lên. Tiếng khóc đó đây trong đám đông càng lúc càng lớn. Lửa hận thù. Lửa hy sinh, Lửa cứu độ... Xác thân c̣n lại của họ được bỏ trong mười ba cái lọ nhỏ. Lời nguyền cùng tro bụi của mười ba người dũng sĩ, sau đó được chôn tại phía bắc của một ngọn đèo. Sau đó Vua mới sai người mang lệnh Vua đi về phương Bắc, ḷng đau đớn cắt đất tiền nhân dâng cho cường địch, để nhận lấy sự an b́nh trong giai đoạn nhất thời...

Ông già người Chăm, nước mắt rưng rưng sau khi kể xong: Những tranh giành lịch sử, dù thành công hay thất bại, luôn luôn nhuốm máu của bá tánh. 

***

Trong lúc ông Cố tôi măi mê đi t́m ư nghĩa của hai mảnh da đó, th́ viên sĩ quan người Pháp, nhận được điện tín từ Pháp quốc cho biết vợ ông bịnh nặng. Công việc chăm coi mở đường giao lại cho người sĩ quan mới. Khi ông Cố tôi về tŕnh bày tường tận chuyến đi cùng những lời giải thích của ông già người Chăm, viên sĩ quan mới lắc đầu. Trong đầu y nối kết những tai họa vừa xảy ra và nhanh nhẩu bảo rằng y không muốn nh́n nó nữa. Hăy chôn lại theo như lời ông già người Chăm đă nói. Ngay sáng hôm sau, ông Cố tôi cho người chôn lời nguyền cùng mười ba cái lọ nhỏ trở xuống, tại một nơi nào đó trên đỉnh đèo Rù Ŕ. Sau đó ông xin được nghỉ việc trở về nhà, cúng tạ trời đất thần linh như đă hứa và tiếp tục công việc của ông, công việc của một thầy giáo làng cho đến cuối đời.

Sau khi biết được lời nguyền đó, tôi đi t́m những dấu tích lịch sử theo lời ông già người Chăm đă kể. Tôi t́m được một chút đầu mối liên quan. Sử sách cho biết, năm Mậu Tư 1648, khi Chúa Nguyễn Phúc Lan đột ngột qua đời, Nguyễn Phúc Tần lên ngôi ở tuổi hai mươi chín, thường được gọi là Hiền vương. Năm 1653, Hiền Vương sai quan cai cơ Hùng Lộc đem quân vượt đèo vượt núi Thạch Bi, đèo Cả, đánh Chăm Pa. Lực lượng mạnh cộng thêm yếu tố bất ngờ, Hùng Lộc đă đánh đến tận Phan Rang. Vua Chiêm đại bại dâng thư xin hàng và cắt châu Kaut Hara của Chiêm Thành từ sông Phan Rang ra đến Đèo Cả dâng cho. 

Chúa Nguyễn đặt dinh Thái Khang với hai phủ, năm huyện. Hai phủ là Thái Khang và Diên Ninh. Năm huyện là Phước Điền, Ḥa Châu, Vĩnh Xương thuộc phủ Diên Ninh; Tân Định, Quảng Phước thuộc phủ Thái Khang. Hùng Lộc được cử làm Thái Thú cai trị hai phủ, dinh đóng tại Thái Khang tức Ninh Ḥa bây giờ. Đây cũng là thời điểm Chăm Pa nộp cống xưng thần với các chúa Nguyễn. Tuy vậ, sự trả thù vẫn luôn luôn là một nỗi niềm thao thức của các v́ vua Chăm Pa. Gần bốn mươi năm sau, năm 1692 Chúa Chăm tên Bà Tranh, đă tấn công vào phủ Diên Ninh và dinh Thái Khang, nhằm chiếm lại núi sông đă cắt dâng từ thuở trước. Cuộc tấn công này đă thất bại. Quân Chăm bị tướng Nguyễn Hữu Cảnh đánh tan tác vào năm 1693. Chúa Nguyễn đổi tên Chăm Pa thành Thuận Thành Trấn, sau đó đổi Thuận Thành Trấn thành B́nh Thuận Phủ.

*****

Sau này tôi hỏi Ba: Vậy chứ lời nguyền ấy được ông Cố chôn tại địa điểm nào trên đèo Rù Ŕ? Ba bảo rằng gia phả không ghi lại đích xác. Chỉ biết trước khi ông Cố mất, có bảo chôn trên đỉnh đèo ngọn núi cao nhất ở phía tây, dưới chân cây cổ thụ già cách đỉnh khoảng 15-20 thước. 

Thời gian đă bào ṃn tất cả. Bây giờ trên ngọn đèo Rù Ŕ không c̣n một cây cổ thụ nào cả. Tuy vậy tôi không suy nghĩ nhiều về địa điểm chôn giấu lời nguyền mà lại bị ám ảnh về một đoạn trong lời nguyền: "Là dân... Là Quan... Là Vương...". Suy nghĩ lại tôi thấy lời nguyền không cay độc như lần đầu ḿnh được nghe. Nó chỉ cay độc khi bất cứ ai sau khi vượt qua nó xuôi về Nam, mà không sống tử tế với đời, với người. Bao nhiêu năm rồi lời của ông già Chăm nói với ông Cố tôi được ghi lại trong gia phả, luôn luôn đeo đuổi tôi: Những tranh giành lịch sử, dù thành công hay thất bại luôn luôn nhuốm máu của bá tánh. 

Hy vọng, sau khi viết ra những ḍng chữ này, tôi sẽ thoát khỏi giấc mơ hăi hùng đó và máu sẽ thôi chảy trên ngọn đèo Rù Ŕ này.
 


Đoàn Nhă Văn 

 

Nguồn: saigontimesusa

 

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Hỗ Trợ Kỹ Thuật

Hoàng Vân, Julia Nguyễn

Web Database

Nguyễn Hoàng Dũng
Xin vui ḷng liên lạc với  haphuonghoai@gmail.com về tất cả những ǵ liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 10/19/17