Giai thoại về một câu ca
TRẦN XUÂN TOÀN
B́nh Định xưa là nơi đất lành chim đậu. Chuyện cách đây hơn 4 thế kỷ, có
một người con nhà ca kỹ "xướng ca vô loại" ở đất làng Hoa Trai, huyện Ngọc
Sơn, tỉnh Thanh Hóa, nổi tiếng thông minh và hiếu học, v́ luật lệ hà khắc
của chúa Trịnh không cho phép con nhà xướng ca ứng thí khoa trường, đă quyết
chí t́m đường lập thân ở xứ Đàng Trong. Sách "Trịnh - Nguyễn diễn chí" do
Bảng trung hầu Nguyễn Khoa Chiêm (1659-1763) soạn có viết việc này: "... bẩm
tính thông minh, sáng trí, thông hiểu sự tích cổ kim, các sách ngũ kinh, chư
sử, Kinh Thư không sách nào là không đọc" và khi không được dự thi "ngày đêm
suy nghĩ để t́m phương kế lập thân, anh em họ hàng đều không hay biết". Con
người chí lớn đó là Đào Duy Từ (1572-1634). Vào xứ Đàng Trong, ở đất B́nh
Định, ông chính thức cộng tác với chúa Nguyễn từ năm 1627 đến năm 1634. Với
một năng lực lớn, văn vơ song toàn, tài cao đức rộng, Đào Duy Từ đă giữ một
vai tṛ lớn trong buổi đầu khai nghiệp của nhà Nguyễn Đàng Trong.
Ở làng Tùng Châu, phủ Hoài Nhân (Hoài Nhơn ngày nay) tỉnh B́nh Định, Đào Duy
Từ được các thân hào nhân sĩ nh́n nhận. Quan Khám lư Cống quận công Trần Đức
Ḥa, nhân vật có tên tuổi lúc bấy giờ và là em kết nghĩa với Săi Vương,
thương yêu gả con gái cho và tiến cử lên Săi Vương, được Vương mến phục và
trọng dụng. Nhớ lại buổi đầu dừng chân ở đất này, sách trên có chép: "Một
hôm Duy Từ đi qua phủ Hoài Nhân. Nơi đây địa h́nh phong phú tươi đẹp, phong
tục hào hiệp, Duy Từ quyết chí ở lại đây t́m chỗ nương thân trong thôn ấp,
chịu làm đầy tớ nhà người để t́m kế lập thân. Nhưng Duy Từ vẫn chưa t́m được
nơi vừa ư, đành phải dừng chân ở quán nước nghỉ ngơi..."
Một kẻ chăn trâu ở mướn mà luận bàn với các ông nho học ở làng về lẽ nho
quân tử, nho tiểu nhân và kẻ chăn trâu anh hùng, kẻ chăn trâu tôi tớ... th́
đâu phải là kẻ b́nh thường trong thiên hạ.
Chuyện Đào Duy Từ rời bỏ quê hương ở Đàng Ngoài chạy vào Đàng Trong theo
Chúa Nguyễn gắn liền với giai thoại một câu ca nói về mối quan hệ giữa một
Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài với Đào Duy Từ ở Đàng Trong thời Trịnh - Nguyễn phân
tranh.
Giai thoại kể rằng: Sau khi Đào Duy Từ bỏ vào Đàng Trong theo Chúa Nguyễn,
Trịnh Tráng sai người đưa thư và lễ vật vào Nam chiêu dụ Đào ra Bắc với ḿnh.
Đào không ra và gửi cho Chúa Trịnh bài thơ sau:
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày c̣n không
Bây giờ em đă có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thủa nào ra?
Trịnh Tráng lại tiếp tục cho người vào gặp Đào Duy Từ một lần nữa. Ông
vẫn không ra và gửi tiếp cho Chúa Trịnh hai câu sau :
Có ḷng xin tạ ơn long
Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen.
Trịnh Tráng tức giận bèn làm mấy câu hát nhắn với Đào:
Có ai về tới Đàng Trong
Nhắn nhe bố đỏ liệu trông đường về
Mải tham lợi, bỏ quê quán tổ
Đất nước người, dù có như không...
Giai thoại là thế chẳng biết hư thực thế nào. Phải đâu Đào "mải tham lợi,
bỏ quê quán tổ" mà chỉ v́ B́nh Định là nơi đất lành th́ chim đến đậu, nơi
đăi sĩ chiêu hiền, dưỡng nuôi bao tài năng văn hóa, văn học cho dân, cho
nước. Câu ca bây giờ được giảng dạy ở nhà trường phổ thông lớp mười:
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay!
- Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày c̣n không?
Bây giờ em đă có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thủa nào ra?

Câu ca đă một thời gắn liền với mảnh đất vốn trọng sĩ, đăi hiền có bề dày
văn hóa lịch lăm và thượng vơ là B́nh Định.
Xem Thêm: http://e-cadao.com/tieuluan/cadaodongdao/nutamxuannoraxanhbiec.htm
Và bài của Giáo sư Phạm Thị Nhung (Paris)
Nụ Tầm
Xuân Nở Ra Xanh Biếc
G.S.Phạm
Thị Nhung
Trong kho tàng văn chương b́nh dân phong phú của dân tộc, những bài ca dao
nói về t́nh yêu lứa đôi là nhiều hơn cả; nhưng không phải cuộc t́nh nào cũng
đi đến hôn nhân tốt đẹp, mà đời sống thực tế , như ca dao chứng tỏ , đă có
lắm cuộc t́nh lỡ v́ nhiều lư do khác nhau .Trong số những bài ca dao loại
này , bài Nụ Tầm Xuân được xem là nổi tiếng nhất:
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân .
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm thay !
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày c̣n không ?
Bây giờ em đă có chồng
Như chim vào lồng , như cá cắn câu .
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thưở nào ra .

Tương truyền bài ca dao trên gồm hai đoạn đối đáp giữa Chúa Trịnh Tráng và
ông Đào Duy Từ .
Nguyên vào thời Nam Bắc phân tranh , hồi đầu thế kỷ thứ 17 , chúa Trịnh
Tráng đă nhiều phen cử đại binh vào Nam chinh phạt chúa Nguyễn mà vẫn không
thành công , chỉ v́ nơi đây có nhiều chiến luỹ kiên cố , như luỹ Đồng Hới ,
luỹ Trường Dục ...
Chúa Trịnh cho ḍ hỏi , được biết ông Đào Duy Từ , gốc người Thanh Hoá ,
Đàng Ngoài, hiện là quân sư cho Chúa Nguyễn , đă giúp nhà Chúa đắc lực trong
việc chấn chỉnh nội trị cũng như trong việc xây thành , đắp luỹ để chống
chọi với quân Bắc Hà . Hối tiếc v́ đă không trọng dụng họ Đào từ trước , để
ông trốn vào Nam phù trợ chúa Nguyễn , Trịnh Tráng bèn sai người ngầm đem
phẩm vật ban tặng họ Đào với bốn câu ca dao nhắn gửi : -Trèo lên cây bưởi
hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân .
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc Em có chồng, anh tiếc lắm thay !
Biết ư chúa Trịnh muốn chiêu dụ ḿnh , Đào Duy Từ rất khó xử , v́ mồ mả tổ
tiên c̣n ở Đàng Ngoài nên không dám cự tuyệt . Nhớ lại tích Trương Tịch đời
Đường xưa , sống trong cảnh loạn ly , họ Trương cũng đă rơi vào trường hợp
éo le như ông , sau giải quyết được êm thấm là nhờ bài “Tiết Phụ Ngâm” mà
giải bày được cảnh ngộ : -Gái tiết nghĩa không thể lấy hai chồng , khác nào
trai trung liệt không thể thờ hai chúa .
Đào Duy Từ bèn bắt chước Trương Tịch , mượn lời một người thiếu phụ tạ t́nh
khác để trả lời chúa Trịnh :
-Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày c̣n không ?
Bây giờ em đă có chồng
Như chim vào lồng , như cá cắn câu .
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thưở nào ra .
Tất nhiên bài ca dao trên được truyền tụng sâu rộng trong dân gian (ngày
nay giới trẻ cũng biết nhiều qua bản phổ nhạc của Phạm Duy) không phải v́ lư
do chính trị như vừa kể, mà v́ tính chất trữ t́nh đặc thù của nó .
Bài ca dao chỉ vỏn vẹn có mười câu thơ viết theo thể song thất lục bát biến
thức , nhưng đă cực tả được một cuộc t́nh lỡ đầy thơ mộng và cũng đầy cảm
khái .
Trước hết, bốn câu thơ đầu (c.1-4) giới thiệu cho ta biết hoàn cảnh, t́nh
cảm và tâm trạng của chàng trai.
Người con trai rời quê hương đi du học phương xa đă mấy năm nay , một ngày
nào đó chàng bỗng cảm thấy nhớ nhung tha thiết cô bạn láng giềng nơi quê nhà
, và ư thức được rằng chàng đă thực sự yêu ai . Chàng thường lấy làm thích
thú mỗi khi ôn lại những kỷ niệm chơi đùa cùng nàng trong thời niên thiếu
vừa qua : -Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân …
Càng ôn lại kỷ niệm xưa , chàng càng thấy ḿnh có hy vọng sẽ chiếm được
trái tim của ai, ḷng mừng khấp khởi như đă nắm được hạnh phúc trong tay .
Và chàng thấy hồi hộp khi tưởng tượng ra giây phút gặp lại người xưa . Cô
hàng xóm bé bỏng ngày nào hẳn giờ đây đă dậy th́ , đă xinh đẹp lắm . Chàng
sẽ nói ǵ khi gặp lại nàng đây ?Tất nhiên chàng sẽ thổ lộ cho nàng nỗi nhớ
niềm thương của ḿnh . Nàng sẽ … nàng sẽ phản ứng ra sao nhỉ ? Ngạc nhiên ?
Không đâu , nàng phải đoán ra những cảm t́nh đặc biệt của chàng dành cho
nàng chứ ?… Thật khó mà tượng tượng hết được … Chỉ biết rằng hiện tại tim
chàng đang rộn ră yêu đương , và ḷng chàng đang chứa chan hy vọng .
Khi vừa thành đạt trở về, chàng nôn nóng ngóng trông sang bên hàng xóm, sao
lạ chưa, không hề nghe thấy tiếng nàng nói cười, và “bên hiên vẫn vắng bóng
nàng”( thơ N. Bính) .Ḍ hỏi cha mẹ, chàng mới hay nàng đă bị gia đ́nh ép gả
chồng xa, nay th́ đă yên bề gia thất .
Hỡi ơi ! Cả bầu trời như xụp đổ dưới chân chàng , chàng đau đớn nghe ḷng
ḿnh như tan vỡ ra hàng trăm ngàn mảnh . Thương cho ai mà lại tiếc cho ḿnh!
Cơn xúc động lắng dần, trách ai bây giờ ? Chàng chỉ biết ôn lại những kỷ
niệm cũ. Chàng nhớ rất rơ , tất cả mới như ngày hôm qua , chàng sống lại với
từng tiếng nói, tiếng cười, từng cử chỉ của ai . Như một cuốn phim ,những kỷ
niệm thân yêu xưa cứ diễn đi diễn lại trong nỗi nhớ thương , tiếc hận của
chàng … Bỗng bên hàng xóm có tiếng người lao xao, nghe vẳng lại như tiếng
nói của ai xưa . Chàng chồm dậy, chạy vội ra khu vườn tuổi thơ, " -Trèo lên
cây bưởi hái hoa...." Chàng lập lại những động tác như hồi c̣n thơ ngây một
cách vô thức ... Hồi ấy , mỗi khi nh́n thấy nàng xuất hiện ngoài vườn, th́
chàng, nếu đang rảnh rỗi, thế nào cũng chạy ra trèo cây, hái hoa , chơi đùa
cùng nàng . Hai nhà chỉ cách nhau có một hàng giậu thưa, trồng hoa hồng tầm
xuân, chàng và nàng chi cần lách rào là có thể sang được vườn nhà nhau dễ
dàng.
Chúng tôi xin nhắc lại, chàng trai trẻ của chúng ta lúc này đang trèo cây,
hái hoa một cách vô thức như người mộng du: -Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước
xuống vườn cà …
Chàng vừa giơ tay chực ngắt bông hồng tầm xuân th́ mắt chàng chợt nh́n thấy
người đẹp -Trời hỡi ! Nàng ! Chính nàng ! Nàng đẹp quá đỗi khiến chàng sửng
sốt . Đúng lúc chàng bừng tỉnh cơn mộng mê th́ lại ch́m vào một cảm giác
choáng ngợp v́ xúcđộng trước nhan sắc lộng lẫy của ai. Rồi ư thức t́nh cảm
tiếc hận trỗi dậy khiến chàng không thể không thốt lời cảm thán : -Nụ tầm
xuân nở ra xanh biếc Em có chồng, anh tiếc lắm thay !
Nhưng tại sao nụ tầm xuân lại không nở cánh màu hồng mà lại màu xanh , xanh
biếc cơ ? Cái khúc mắc là ở chỗ đó . Xin thưa , chúng ta có nhiều cách lí
giải:
Đơn giản nhất cho rằng nụ tầm xuân mới nhú nơi đầu cành , c̣n ở thể trạng
một nụ hoa xanh ngắt .
Nếu như vậy câu thơ sẽ mất đi sức sống , h́nh ảnh sẽ thiếu sinh động , rực
rỡ và ư thơ trở nên nghèo nàn . Vả không ai ngắt một nụ hoa c̣n xanh ngắt để
chơi , nhất là để tả nhan sắc người đẹp .
Vậy hoa tầm xuân ở đây thuộc loại hoa có cánh màu xanh ? Theo một số các bô
lăo cho biết th́ tầm xuân, một loại hoa hồng dại , thường trồng bên hàng
giậu nơi quê nhà , có cánh hoa màu hồng , thảng khi mới có màu trắng hay màu
vàng . Trong trường hợp này , theo thiển ư , chúng ta có thể giải thích như
sau :
- Khi đôi mắt chàng trai của chúng ta đă “bám chặt” vào cô bạn láng giềng
hết sức xinh đẹp và rất mực thương yêu của chàng th́ chàng c̣n nhớ ǵ đến
màu hoa tầm xuân hồng hay xanh nữa . Nhưng không phải chàng nói “Nụ tầm xuân
nở ra xanh biếc” mà không có lư do .
Khi từ cây bưởi bước xuống, dù vô ư đến đâu , mắt chàng cũng phải nh́n thấy
đám hoa cà xanh xanh ở dưới chân ḿnh . Và dù đang trong cơn mê mẩn tâm thần,
không để ư hoa cà màu ǵ , nhưng trong tiềm thức chàng vẫn biết :
-Chơi hoa phải biết mùi hoa
Hoa lê th́ trắng , hoa cà th́ xanh. (Ca dao)
V́ thế , khi vừa có ư giơ tay ngắt bông hoa tầm xuân , chàng chợt nh́n thấy
nàng :
- Nàng đẹp quá ! Vâng nàng đẹp quá ! Chàng phải khen tặng nàng , nhưng
không thể nói một cách sỗ sàng như thế , mà phải khen bóng bẩy , tế nhị kia
… , phải rồi , nàng đẹp như một nụ hoa … hoa ǵ ? Hoa tầm xuân ! (Ư tưởng
định giơ tay ngắt bông tầm xuân vừa có đó) . Hoa đẹp v́ sắc . Hoa tầm xuân
sắc ǵ ? Đang cơn xúc động , chàng không c̣n đầu óc để nhận định , chàng
liền liên kết nó với màu xanh xanh của hoa cà vừa xuất hiện trước đó . Thế
là nụ tầm xuân của chàng bỗng nhiên mang màu xanh !
Nhưng màu xanh của hoa cà ngả sang tim tím , nhàn nhạt , tầm thường lắm .
Không , nụ tầm xuân của chàng phải nở ra những cánh hoa xanh mơn mởn nguyên
trinh, ngát một màu xanh rất tươi , rất thắm..., phải rồi, một màu xanh biếc
, một màu xanh tâm tưởng! -Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc !
Thế là màu hoa tầm xuân của chàng trai đă rời khỏi màu sắc hiện thực của
ngoại giới để trở thành màu" xanh biếc "của tâm giới. Có thế mới đủ diễn tả
sắc đẹp kiều diễm của người chàng yêu và ḷng ngưỡng mộ của chàng lúc đó .
Chỉ một sát-na của thời gian , bằng ấy sự suy luận , tưởng tượng, so sánh ,
cân nhắc, liên kết h́nh ảnh , màu sắc và nỗi xúc động bởi t́nh yêu đắm đuối
cùng trước nhan sắc rực rỡ của người xưa đă diễn ra trong tâm trí của chàng
trai, để thoát ra thành một lời khen tặng vừa bóng bẩy , ư nhị , vừa thâm
trầm , thắm thiết: -Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc !
"Nụ tầm xuân " chẳng những tượng trưng cho nhan sắc của cô bạn láng giềng,
sằc đẹp của nàng càng xinh tươi, kiều mỵ bao nhiêu (nở ra xanh biếc) , mà
đồng thời c̣n cho tinh yêu của chàng trai, t́nh chàng càng bồng bột , say
đắm , thuần khiết bao nhiêu( nở ra xanh biếc) th́ ḷng tiếc hận của chàng
càng thống thiết bấy nhiêu : -Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc Em có chồng anh
tiếc lắm thay !
Chỉ một câu thơ giản dị ấy thôi , chàng đủ thổ lộ hết cùng nàng cái tâm sự
yêu đương tha thiết , và nỗi ḷng tiếc hận không cùng của ḿnh . Và cả hai
câu thơ trên rút lại chỉ một chữ “tiếc” đủ gói ghém trọn ư .
Thật vậy , người ta đă hỏi nàng làm vợ , đă lấy nàng v́ những lư do nào
chàng không cần biết , nhưng đối với chàng , nàng là viên bảo ngọc vô giá :
Nàng là tượng trưng cho tất cả những kỷ niệm hạnh phúc của chuỗi ngày niên
thiếu thơ ngây ;
Nàng là tất cả nỗi nhớ niềm thương trong thời gian xa cách ;
Nàng là tất cả sự khích lệ khiến chàng cố gắng phấn đấu học hành , xây dựng
sự nghiệp , để mau chóng thành công trở về ;
Nàng là đoá hoa hồng tầm xuân lộng lẫy, là đối tượng của tất cả tấm ḷng
bồng bột khao khát yêu đương ở tuổi thanh xuân của chàng .
Quả là suốt hai mươi năm nay nàng đă không xa chàng , trong tiếp xúc gần
gũi hay trong ḷng tưởng nhớ; thế mà giờ đây :" Em đă có chồng !" Đổ vỡ hết
rồi , tiếc nuối biết bao nhiêu ! -Em có chồng , anh tiếc lắm thay !
Tiếc … ! Tiếc lắm thay !
C̣n cô láng giềng th́ sao ?
Sáu câu thơ cuối (c.5-10) đă cho chúng ta biết về cảnh ngộ cùng tâm t́nh,
thái độ của người con gái .
Từ bao tháng rồi đi lấy chồng xa ,maĩ hôm nay nàng mới có dịp trở lại quê
nhà .Vừa ra thăm khu vườn cũ ,nào ngờ được gặp lại người bạn trai hàng xóm
thưở xưa . Chàng đi xa học hành , lập nghiệp từ năm, sáu năm nay , chàng đă
trở về rồi đó ư ? Người thanh niên cao lớn đang đứng trước mặt nàng là chàng
đó ư ?-Đúng rồi, người xưa đây mà ! Nàng vừa xúc động , vừa bối rối , thẹn
thùng ...
Suốt thời niên thiếu thơ ngây , chàng và nàng thường vui chơi thân thiết
bên nhau . Từ ngày chàng ra đi , đôi khi nàng có thoáng thấy ḷng ḿnh nhớ
nhung ai , nhưng măi đến tuổi dậy th́ , bắt đầu biết mơ mộng th́ h́nh ảnh ai
kia mới thực sự ngự trị trong trái tim nàng ; và từ đó nàng âm thầm mong
ngóng ai về . Trong thời gian này , có người đến dạm hỏi nàng làm vợ th́
nàng đều t́m hết cớ này, cớ nọ để thoái thác, nàng cố t́nh chờ đợi chàng...
Năm tháng lặng lẽ trôi qua, chàng đă chẳng có lấy một lời nhắn gửi thăm hỏi
, nàng tránh sao khỏi buồn tủi :
-Duyên kia ai đợi mà chờ
T́nh kia ai tưởng mà tơ tưởng t́nh !
(ca dao)
Nên đă có một ngày, nàng đành gạt nước mắt , nghe lời cha mẹ đi lấy chồng ,
một người chồng xa xứ mà trước đó nàng không hề quen biết , yêu thương . Hôm
nay bỗng nhiên gặp lại người xưa , nàng xúc động và bối rối quá nên cũng
chưa kịp ư thức được chàng đang làm ǵ ?… À ! "Trèo lên cây bưởi hái hoa ,
bước xuống vườn cà …" Chàng vẫn ưa trèo cây ,hái hoa như thời niên thiếu
ngày xưa; và chàng đă nói ǵ với nàng? -Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc Em có
chồng anh tiếc lắm thay !
Trời hỡi ! Th́ ra chàng cũng yêu nàng , và đă muốn cùng nàng kết tóc xe tơ
!
Sung sướng và cảm động làm sao ! và nàng đă không khỏi tiếc nuối : -Ba đồng
một mớ trầu cay Sao anh chẳng hỏi những ngày c̣n không ?
Nàng có ư trách chàng sao quá chậm bước , đă không đi dạm hỏi nàng ngay khi
nàng c̣n con gái. Có nghĩa là, nếu chàng hỏi nàng từ thưở ấy th́ nàng đă
bằng ḷng . Qua câu này vô t́nh nàng đă thổ lộ t́nh yêu của ḿnh cho chàng
hay .
Hơn nữa, không chỉ ḿnh nàng bằng ḷng mà cha mẹ nàng cũng đă sẵn sàng đón
nhận cuộc hôn phối này nên vẫn có ư nấn ná chờ đợi chàng về , và sẽ dành mọi
dễ dàng cho chàng , chỉ cần : -“Ba đồng một mớ trầu cay “
( “một mớ trầu cay” là cách nói hoán dụ, lấy một phần để chỉ tổng thể lễ
vật dạm hỏi gồm trầu, cau, trà, rượu)
vâng, chỉ với lễ vật tối thiểu trong nghi thức đi dạm vợ đó thôi là gia
đ́nh nàng sẽ chấp nhận cho chàng làm rể , vậy mà chàng đă không sớm lo liệu
.
Năm tháng trôi qua , nàng đă đứng tuổi (thời xưa con gái 17,18 tuổi chưa có
chồng đă bị coi là "ế"), vả lại cha mẹ chàng cũng không có một lời gấm ghé ,
hẹn ḥ , thế nên gia đ́nh nàng đành phải ép nàng lấy chồng .
Hôm nay chàng và nàng được gặp lại nhau , hiểu rơ ḷng nhau (điều này hẳn
là một niềm an ủi lớn cho họ , nhưng cũng v́ vậy mà nỗi tiếc hận của nàng và
nhất là của chàng càng nhân lên gấp bội) , th́ than ôi ! đă quá muộn ; đă lỡ
làng hết rồi !
Nay nàng đă là gái có chồng , nàng ư thức rất rơ bổn phận của ḿnh, mặc dầu
cuộc sống lứa đôi bị g̣ bó , không hạnh phúc “như chim vào lồng , như cá cắn
câu” , nhưng nàng chấp nhận như một định mệnh đă an bài : -Bây giờ em đă có
chồng Như chim vào lồng , như cá cắn câu .
Nàng xin chàng hăy hiểu cho cảnh ngộ của nàng, và nàng cũng đă cam phận ,
mà đừng yêu thương , tơ tưởng , hy vọng ǵ nữa : -Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thưở nào ra !
Câu trả lời rất thành thực là tuy có buồn cho cảnh ngộ, nhưng cũng rất đúng
đắn , dứt khoát của người thiếu phụ trước người bạn trai láng giềng thân
thiết thuở xưa đang tỏ t́nh cùng nàng, đă làm ta phải cảm động và quí mến
nàng .
Nàng đă biết chế ngự t́nh cảm lăng mạn của ḿnh, biết dừng ở lúc phải dừng.
Và dù lấy chồng không yêu thương, cuộc sống hiện tại không như ư, nhưng một
khi đă làm vợ , nàng biết giữ bổn phận phải thủ tiết với chồng để duy tŕ sự
yên ấm cho gia đ́nh . Nàng không giống như người tiết phụ của Trương Tịch ,
nhận ngọc của một chàng trai xa lạ , đem giấu trong dải yếm , khi ư thức ra
bổn phận phải chung thuỷ với chồng mới trả ngọc lại cho người , với hai hàng
nước mắt tiếc rẻ : -Hoàn quân minh châu song lệ thùy Hận bất tương phùng vị
giá th́ .
Để hết luận ta có thể nói, bài ca dao NỤ TẦM XUÂN chỉ với mười câu thơ ngắn
ngủi để tả một cuộc tinh lỡ nhưng đă hội đủ những ưu điểm : nhạc thơ khi êm
đềm , thanh thoát (ở những câu lục bát chỉ gieo toàn vần bằng) , lúc lại
bổng trầm nức nở (ở những câu song thất gieo hai vần bằng, trắc xen nhau) ;từ
ngữ , h́nh ảnh th́ giản dị trong sáng nhưng vô cùng hàm súc,gợi cảm ; t́nh ư
vừa thơ mộng thắm thiết lại vừa ngậm ngùi cảm kích … đă khiến nó dễ thấm sâu
vào ḷng người . Đây quả là một bài ca dao trữ t́nh đặc sắc ,vừa có
giá trị nhân bản, vừa có giá trị nghệ thuật rất cao của dân tộc .
Phạm Thị Nhung, G.S.
Posted on 29
Tháng Chín 2011 by Trần Lê
Túy-Phượng
Cây tầm xuân nhiều nơi trên đất Bắc gọi
là hoa hồng dây hay hồng leo, có tên
khoa học là Rosa multiflora thunb, họ
Rosaceae. Người xứ khác gọi là dă tường
vi, là một loài hoa gần giống hoa hồng,
mọc dại, thường nở vào mùa xuân. Loài
hoa này chẳng cần chăm chút mà vẫn có
sức sống, có hương sắc. Đó là loài hoa
có màu trắng, đỏ hay hồng nhạt…, cánh
mềm, hoa mỏng mảnh nhỏ xinh, hương thơm
thanh bạch mà ngan ngát. Nó sống, sinh
sôi nảy nở, làm nên sức sống vừa hoang
dă , vừa thơ mộng. Và hơn nữa, hương sắc
của nó dường như đón cả mùa xuân. Nụ
tầm xuân có màu trắng, màu hoa ấy từ
ngàn xưa đă có màu trắng. Nhưng trong
một bài ca dao lại có đoạn: “nụ tầm xuân
nở ra xanh biếc”. Màu xanh ấy có phải là
màu xanh trong mắt một kẻ si t́nh? Hay
màu xanh ấy là màu xanh của sự thất vọng
“em đă lấy chồng”.
Tác giả Phan Bảo Thư khi bàn về Nụ
Tầm Xuân Nở Ra Xanh Biếc, đă viết:
Xin Chia sẻ cùng Thân hữu hôm nay: Nụ
Tầm Xuân.
Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước ra vườn cà hái nụ tầm xuân,
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em lấy chồng anh tiếc lắm thay…
Những câu ca dao với lời và ư thật
nhă đă được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhac
đóng góp vào những bản nhạc xuân. Từ ngữ
“xuân ” trong danh từ “nụ tầm xuân ” dễ
gợi cho mọi người những ư nghĩ về tuổi
trẻ; những hoài niệm về thuở ầu thơ với
những tưởng tượng mơ hồ về hính dáng của
loài hoa: HOA TẦM XUÂN hay NỤ TẦM XUÂN
NỞ RA XANH BIẾC. Nhưng, …thật sự có thứ
nu tầm xuân nở ra xanh biếc hay không ?
V́ nhiều người cho rằng nụ tầm xuân chỉ
là những cánh hoa hồng dại làm ǵ có màu
xanh biếc ?

Để nhận ra xem có c̣n loài hoa tầm
xuân nào mà nụ nở ra xanh biếc nữa chăng
bài viết này sẽ đề cập đên những dữ kiện
liên quan đến nụ tầm xuân.
Trước hết như nhiều người công nhận
rằng hoa tầm xuân chỉ là một chi nhánh
của loài hoa mọc hoang dại trong họ hoa
hồng. Tầm Xuân c̣n có những tên khác là:
thích hoa, bạch tàn hoa, thích mi, ngưu
cúc, thập tỉ muội, thất tỉ muội, dă
tường vi. Hoa co’ màu trắng hay hồng;
c̣n màu “xanh biếc” trong câu thơ th́
tac giả đă túng vận nên chỉ nói cho
suôn, cho hợp với vần “iếc” trong từ ngữ
“tiếc” của câu sau. Chuyện túng vận đúng
hay sai sẽ được đề cập ở phần sau. Và
trong nhóm hoa thuộc họ nhà hồng này có
những loài có tên khoa học là Rosa
tunquinesis hay Rosa cymosa hay Rosa
multiflora (Wikipedia) và có nguồn gốc
từ Âu châu, Tây Á.
Sách Và tài liệu của Giáo sư Phạm
Hoàng Hộ cũng như Vơ Văn Chi và Lê Khả
Kế chỉ cho thấy Tầm Xuân thuộc họ nhà
Hồng (Rosaceae) với các loài sau: Rosa
tunquinensis (Tầm Xuân Bắc hay c̣n gọi
là Quầng quầng), Rosa cymosa (Tầm
xuân-hồng choắt-hồng roi), Rosa
multiflora (Tầm xuân đa hoa). Tự điển
của Nguyễn Đ́nh Hoà dịch chữ Tầm Xuân
sang tiếng Anh là dogrose: hồng chó hay
hồng cẩu, thật không thanh lịch lăng mạn
ǵ hết v́ tất cả các loài hoa hồng này
chỉ là những loài hoa mà cành cây đầy
gai góc và màu hoa th́ từ trắng đến màu
hường nhạt không có loài nào nở ra xanh
biếc.
Từ Nguyên tự điển chỉ ghi Tầm Xuân là
đi t́m mùa xuân, có mấy câu thơ liên
quan đến ư nghĩa của hai chữ Tầm
Xuân:Tầm Xuân du thượng lộ
Truy yến nhập tiên gia [ Trần Tử
Ngang]hay:
Ngu hanh` tương cấm hoa
Thập bộ tưởng tầm xuân [Mạnh Hạo
Nhiên].Thi nhân của nền Văn chương Hoa
Việt cũ không có nhiều cảm hứng trước
loài hoa tầm xuân v́ nó hiếm hoi hay v́
hương sắc quá khiêm nhường trước những
mẫu đơn, hải đường, hoàng mai, tịnh lan,
…nhưng dù hiếm hoi th́ “nụ tầm xuân’
cũng đă có tên trong nền văn chương Đai
Việt. Như đă nói, t́nh, ư gởi gắm trong
mấy câu ca dao thật yêu kiều và lăng mạn
và cũng đă có một giai thoại của lịch sử
về chúa Trịnh Tráng ở Đàng Ngoài và vị
khai quốc công thần Đào Duy Từ ở Đàng
Trong trong giai đoạn mở đầu của thời
Trịnh – Nguyễn phân tranh.Là một đấng
thiên tài nhưng lại sinh ra từ một gia
đ́nh xướng ca họ Đào không thể tiến thân
bằng con đường khoa cử nơi đất Bắc, đành
phải dung thân, t́m chân chúa nơi “Đạo
Hoành-sơn “. Noi theo chí lập thân của
người xưa, theo cách cũ của Bách Lư Hề,
Ninh Thích gơ sừng trâu mà đủng đỉnh
ngâm khúc “Ngoạ Long Cương “. Chúa Săi
Nguyễn Phúc Nguyên đă “già ” đoán anh
hùng giữa chốn trần ai. Rồng mây gặp hội,
Đào Duy Từ đă đem hết tài kinh luân giúp
chúa Nguyễn an bang tế thế, vững bền
biên thuỳ một cơi nguy nga ở phương Nam,
sá ǵ Trịnh phủ hiếp đáp vua Lê ở Bắc Hà
mà không dám đương đầu : dư bất thụ
sắc!Thành tích và chiến công của Đào Duy
Từ đến tai chúa Trịnh, Trịnh Tráng sai
người mang lễ vật cho Đào Duy Từ với lời
ân hận đă bỏ lỡ cơ hội cho cuộc tương
phùng:
Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước ra vườn cà hái nụ tầm xuân;
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em lấy chồng anh tiếc lắm thay.
Lễ vật và t́nh ư không chiêu dụ được
Đào v́ ông đă t́m ra chân chúa, ông đă
trả lời Trịnh Tráng:
Ba đồng một mớ trầu cay,
sao anh không hỏi những ngày c̣n
không ?
Bây giờ em đă có chồng,
Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra !
Lời từ chối nhẹ nhàng nhưng khéo léo;
Trịnh Tráng lại cho người chiêu dụ một
lần nữa; lần này ho Dao`quyết liệt hơn:
Có ḷng xin tạ ơn ḷng,
Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen.
Trịnh Tráng không c̣n kiên nhẫn nữa;
tức giận:
Có ai về tới Đàng Trong,
Nhắn nhe Bố Đỏ liệu trông đường về;
Măi tham lợi bỏ quê quán tổ,
đất nước người dù có như không.
Không biết ai là tác giả của những
câu ca dao ấy, Trinh Tráng và Đào Duy Từ
sáng tác hay là chỉ góp nhặt từ trong
dân gian như viên đá quư trong đám sỏi
đá của văn chương b́nh dân mà họ đă gặp
trên đường đi. Cho dù tác giả là ai th́
những viên đá hay những thanh kiếm bắt
gặp trong án thư của vương phủ hay của
một đại thần phải là một viên đá quư
không có tỳ vết hay là thanh bảo kiếm
không hoen rỉ. Chúa Trinh đă dùng lời lẽ
trong mấy câu thơ để chiêu dụ hiền tài
th́ đó không thể là cau thơ của một thi
sĩ túng vận. Một chút dài ḍng văn tự
trên đây chắc cũng đủ để nhận chân giá
trị bài thơ.
Tô Đông Pha chắc phải thẹn thùng
nhiều lắm về chuyện sửa câu thơ của
Vương An Thạch sau khi nhận ra sự hiện
hữu của loài chim có tên Minh Nguyệt và
loài sâu có tên Hoàng Khuyển. Hy vọng
chúng ta không phạm phải lỗi lầm của
người xưa; chớ vội nói rằng câu ca dao
câu ca dao trên đă có sự túng vần trước
khi nhận dạng ra một loài hoa Tam Xuân
nở ra xanh biếc.
Thật vậy.
Bàn trở lại về cách gieo vần của bài
thơ, đây là bài thơ theo thể lục bát
thất ngôn, vần iếc trong chữ biếc của
câu thứ ba[câu thất thứ nhất] sẽ được
nối vần với chữ thứ năm của câu thất thứ
hai [chữ tiếc]. Khi đưa ra chữ biếc để
gieo vần tác giả có hoàn toàn tự do v́
chưa phải t́m vần. Nếu chữ tiếc, chữ thứ
năm của câu thất thứ nh́ [câu thứ tư của
bài thơ] gieo đúng vần với chữ biếc mà
không có nghĩa th́ mới nói là câu thơ bị
ép vần v́ thi sĩ đang bị túng vần. Tóm
lại ở đây thi sĩ có hoàn toàn tự do để
viết (nói ) ra rằng nụ tầm xuân nở ra
xanh biếc. Phải có một thứ Nụ Tầm Xuân
nở ra xanh biếc.
Lịch sử c̣n đó, Thanh Đô Vương Trịnh
Tráng và Nội tán Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ
đă đi vào lịch sử, chuyện chiêu dụ và
khước từ cũng đă rơ ràng nhưng câu
chuyện văn chương th́ vẫn c̣n là những
ẩn khuất. lấy ǵ làm bằng chứng rằng hai
bậc vương hầu Trịnh-Đào đă đối đáp với
nhau bằng những câu ca dao như thế. Văn
khố nào lưu giữ bút tích của người xưa ?
Chắc là khó v́ xét cho cùng th́ đó là
những bí mật quân sự. Khó t́m thấy câu
chuyện văn chương này trong những thư
tịch khả tín nhưng giai thoại th́ vẫn
đồn đăi, lưu truyền trong dân gian.
Không có lửa sao có khói hay là chúng ta
dễ dăi một chút, chấp nhận câu chuyện
qua lời truyền tụng của nhân gian. Tư-mă
Thiên, đệ nhất sử gia Trung quốc đă
không t́m tài liệu từ những lời nói lưu
truyền trong dân gian đó sao ! Và rồi
nếu câu chuyện văn chương có thật th́
hoa tầm xuân nở ra xanh biếc cũng có
thật. Phần khẳng định này phải nhờ đến
những nhà nghiên cứu văn học và những
nhà thực vật hoc.
Sách Và tài liệu của Giáo sư Phạm
Hoàng Hộ cũng như Vơ Văn Chi và Lê Khả
Kế chỉ cho thấy Tầm Xuân thuộc họ nhà
Hồng (Rosaceae) với các loài sau: Rosa
tunquinensis (Tầm Xuân Bắc hay c̣n gọi
là Quầng quầng), Rosa cymosa (Tầm
xuân-hồng choắt-hồng roi), Rosa
multiflora (Tầm xuân đa hoa). Tự điển
của Nguyễn Đ́nh Hoà dịch chữ Tầm Xuân
sang tiếng Anh là dogrose: hồng chó hay
hồng cẩu, thật không thanh lịch lăng mạn
ǵ hết v́ tất cả các loài hoa hồng này
chỉ là những loài hoa mà cành cây đầy
gai góc và màu hoa th́ từ trắng đến màu
hường nhạt không có loài nào nở ra xanh
biếc.Vậy tai sao c̣n có một nhà thơ vẫn
ngâm nga:
Chạm vào một nhánh Tầm Xuân,
Vẫn xanh biếc nụ, vẫn ngần ấy hương.
” vẫn xanh biếc nụ, vẫn ngần ấy hương”
xem ra th́ thi sĩ đă quen thuộc với hoa
Tầm xuân lắm và hy vọng rằng lần này thi
nhân nhắc đến tên tầm xuân với màu xanh
biếc không phải là một sự mô tả theo lối
ước lệ v́ tác giả câu thơ đă từng quen
nh́n tầm xuân nên thấy “vẫn” xanh biếc
nụ và đă từng quen thuộc với mùi hương
hoa nên cũng chỉ ngửi thấy “ngần ấy
hương”. Và như vậy th́ phải có một loại
hoa tầm xuân có màu xanh biếc.
Theo công tŕnh nghiên cứu của Nguyễn
Xuân Đức th́ có một loại hoa họ đậu được
phân phối nhiều ở duyên hải miền Trung
Việt nam có tên là Tầm Xuân hay c̣n gọi
là hoa Đâu biếc có màu xanh tím.
Theo những nghiên cứu của Nguyễn Xuân
Đức th́ hoa Tầm Xuân có nhiều ở duyên
hải miền trung Việt nam từ Thanh hoá
Nghệ an đến B́nh Thuận. Hoa thuộc họ đậu
sắc màu xanh tím nên c̣n có tên là hoa
đậu biếc.
Theo nhà thực vật học, giáo sư Nguyễn
Thiện Tích ở Đai Học Khoa Học đường
Saigon [nay là Trường Đại Học Khoa Học
Tự Nhiên] th́ giống hoa này có chung một
họ mà tên khoa học là Clitoria . Cái tên
thật dễ gợi đến phần nhạy cảm nhật trong
cái “vưu vật tôn nghiêm” của cơ thể phụ
nữ: “Clitoris”. Thuộc ḍng ho Clitoria
này có những chi mariana, blue pea,
vine, fragan, macrophylla, alba, … Có lẽ
ví lư do thỗ nhưỡng, khí hậu mà loài hoa
chỉ xuất hiện ở duyên hải miền trung
Việtnam. Có lẽ vùng Thanh hoá Nghệ an,
miền đất tổ của Thanh Đô Vương Trịnh
Tráng không hiếm loài hoa này và Thanh
Đô Vương đă có dịp hội kiến loài hoa
mang nhiều đặc tính lăng mạn, hoa Tầm
Xuân.
Tự điển Việt Anh của Nguyễn Đ́nh Hoà
dịch tên Tầm Xuân từ tiếng Việt sang
tiếng Anh là dogrose. Cái tên dễ làm
thất vọng những ai có tâm hồn lăng mạn
v́ nó đă làm mất đi tất cả những thi vị
của tên gọi Tầm XuânNhưng ngoài câu ca
dao trên c̣n vài câu thơ như là :
Dáng tầm xuân uốn trong tranh tố nữ
Ôi tiên nương nàng lại ngự nơi đây,
Mắt ngời châu rung ánh sáng nghê
thường, [ Bích Khê- Bức Tranh Tố Nữ].
Loài hoa hồng th́ chắc là không thể
khêu gợi, uốn éo như lời thơ của Bích
Khê . Có lẽ Bích Khê, thi sĩ của thi sĩ
sinh trưởng trên vùng đất của sông Thu
bồn, núi Thiên ấn có dịp ngắm nh́n những
đoá Tầm Xuân thuộc họ đậu lăng mạn
Clitoria mariana hay Clitoria ternatea
này chăng ?
Xem như thế th́ có hai nhóm hoa Tầm
Xuân: nhóm thứ nhất thuộc loại nhà hồng
với Rosa cymosa, Rosa multiflora, Rosa
tunquinensis và nhóm thứ hai thuộc họ
đậu như: Clitoria mariana, Clitoria
ternatea, … Không biết nhạc sĩ Xuân Tiên
đă dề cập đến loài hoa Tầm Xuân nào khi
soạn “Khúc Ca Ân T́nh” …”một ngày t́m về
phương Bắc, hái hoa Tầm Xuân trao nàng…”
Hoa cỏ th́ đă có từ bao nhiêu triệu
năm trước khi loài người xuất hiện trên
hành tinh này, xét cho cùng th́ cũng chỉ
là những thứ hữu thể vô thường. Có thể
chúng ta đă chiêm ngưỡng với nét đẹp
tưởng tượng qua mấy ca dao trước khi
thực chứng căn cước của loài hoa của Hoa
Tầm Xuân. Nét đẹp trong huyễn tưởng bao
giờ cũng lăng mạn và mỹ miều hơn trong
thực tế và nhắc nhở nhiều đến những hoài
niệm ấu thơ.Nụ Tầm Xuân rộn hương ngày
cũ,
Hoa bưởi thơm trắng tụ vườn xưa.
Để trời đừng nắng đừng mưa,
Chỉ hiu hiu gió cho vừa nhớ thương.
 |
| Đ́nh Lạc Giao |
Đào
Duy Từ, Thần Hoàng đ́nh Lạc Giao
Đ́nh Lạc Giao ở thành phố Buôn Ma Thuột h́nh thành năm 1928, là
đ́nh làng đầu tiên của những người Việt (Kinh) từ đồng bằng lên đây
lập nghiệp. Là nơi thờ Thần Hoàng (c̣n gọi là Thành Hoàng), là người
có công lập làng. Đ́nh cũng là nơi diễn ra các sinh hoạt tập tục có
tính cộng đồng, cũng là nơi tôn thờ các anh hùng đă có công lớn trong
việc bảo vệ, xây dựng làng.
Năm 1932, Vua Bảo Đại đă ban sắc tứ phong cho Đào Duy Từ là Thần Hoàng
của đ́nh Lạc Giao. Nhân vật được sắc phong Thần Hoàng là một danh nhân
văn hoá, một tài năng lớn trong nhiều lĩnh vực: Chính trị, quân sự,
kinh tế, văn hoá … đặc biệt ông là người có công mở mang đất nước, xây
dựng nên nhiều vùng đất mới.
Đào Duy Từ (1572-1639): Tác giả Ngọa Long Cương Văn, giúp chúa Nguyễn
mở cơ nghiệp.
 |
| Chính điện |
“Dưới thời Lê Trung Hưng (1532 - 1788) Đào Duy Từ là con một kép
hát ở Thanh Hoá, không được dự thi, phẫn chí ông bỏ Đàng Ngoài vào
Đàng Trong sống với Trần Đức Hoà (Quy Nhơn) lúc nhàn rỗi, ông lấy phác
làm vui, nhân đó mà Châu Ta (tức B́nh Định) được di phong.
Vũ khúc Tam tinh chúc thọ: Có nghĩa là ba sao chúc sống lâu. Đó là ba
sao Phúc, Lộc, Thọ. Vũ khúc này được dùng trong dịp lễ vạn Thọ, múa
chúc thọ nhà vua. Đến đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, Đào Duy Từ sửa lại
để múa vào các ngày lễ Vạn Thọ, Thánh Thọ, Tiên Thọ, Thiên Xuân, ngụ ư
chúc nhà vua phúc - lộc - thọ kiêm toàn.
Vũ khúc Múa quạt: (Vũ phiến), cũng do Đào Duy Từ đặt ra, múa vào các
buổi yến tiệc, tân hôn dành cho Hoàng Thái Hậu, Hoàng Hậu, phi tần,
công chúa thưởng lăm
Vũ khúc Tứ linh: Là bốn loài thú linh thiêng: Rồng (Long), Kỳ lân
(Long hay Ly), rùa (Quy) và chim Phượng (Phụng). Vũ khúc này có từ
thời cổ được Đào Duy Từ chỉnh biên lại để múa vào những ngày Vạn thọ,
Thánh thọ, Tiên thọ, Thiên xuân và cúng Mụ.
Vũ khúc Nữ tướng xuất quân: Múa trong những ngày lễ chiến thắng, Hưng
quốc Khánh niệm, những buổi dạ yến và tiếp sứ thần nước ngoài. Vũ khúc
này do Đào Duy Từ đặt ra để ghi nhớ công đức Hai Bà Trưng có công đánh
giặc giữ nước.
Vũ khúc Tam quốc - Tây du: Cũng do Đào Duy Từ đặt ra để diễn lại sự
tích những vị anh hùng chiến đấu v́ dân v́ nước. C̣n riêng điệu múa
Tây Du nhằm làm siêu thoát âm hồn thập loại chúng sinh. Vũ khúc Tam
Quốc - Tây Du múa vào các ngày lễ Vạn thọ, Khánh thọ và Tiên thọ.
Vũ khúc Đấu chiến thắng Phật: Múa vào các ngày lễ Vạn thọ Khánh thọ,
Tiên thọ và cúng Mụ. Đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, Đào Duy Từ đem kinh
Phật đặt ra vũ khúc này chủ yếu để trừ yêu ma quỉ chướng. V́ điệu múa
có hai vị thần là Tề Thiên Đại Thánh và Hộ Pháp nên cũng gọi là múa
song quang.
|
|