Home T́m Ca Dao Trang Chủ Toàn Bộ Danh Mục e-Cadao English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
Cảm Nghĩ
 
Ẩm Thực
Chợ Quê
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Trang Chủ
 

 
 

 

 
 

Giai thoại về một câu ca

TRẦN XUÂN TOÀN

B́nh Định xưa là nơi đất lành chim đậu. Chuyện cách đây hơn 4 thế kỷ, có một người con nhà ca kỹ "xướng ca vô loại" ở đất làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hóa, nổi tiếng thông minh và hiếu học, v́ luật lệ hà khắc của chúa Trịnh không cho phép con nhà xướng ca ứng thí khoa trường, đă quyết chí t́m đường lập thân ở xứ Đàng Trong. Sách "Trịnh - Nguyễn diễn chí" do Bảng trung hầu Nguyễn Khoa Chiêm (1659-1763) soạn có viết việc này: "... bẩm tính thông minh, sáng trí, thông hiểu sự tích cổ kim, các sách ngũ kinh, chư sử, Kinh Thư không sách nào là không đọc" và khi không được dự thi "ngày đêm suy nghĩ để t́m phương kế lập thân, anh em họ hàng đều không hay biết". Con người chí lớn đó là Đào Duy Từ (1572-1634). Vào xứ Đàng Trong, ở đất B́nh Định, ông chính thức cộng tác với chúa Nguyễn từ năm 1627 đến năm 1634. Với một năng lực lớn, văn vơ song toàn, tài cao đức rộng, Đào Duy Từ đă giữ một vai tṛ lớn trong buổi đầu khai nghiệp của nhà Nguyễn Đàng Trong.

Ở làng Tùng Châu, phủ Hoài Nhân (Hoài Nhơn ngày nay) tỉnh B́nh Định, Đào Duy Từ được các thân hào nhân sĩ nh́n nhận. Quan Khám lư Cống quận công Trần Đức Ḥa, nhân vật có tên tuổi lúc bấy giờ và là em kết nghĩa với Săi Vương, thương yêu gả con gái cho và tiến cử lên Săi Vương, được Vương mến phục và trọng dụng. Nhớ lại buổi đầu dừng chân ở đất này, sách trên có chép: "Một hôm Duy Từ đi qua phủ Hoài Nhân. Nơi đây địa h́nh phong phú tươi đẹp, phong tục hào hiệp, Duy Từ quyết chí ở lại đây t́m chỗ nương thân trong thôn ấp, chịu làm đầy tớ nhà người để t́m kế lập thân. Nhưng Duy Từ vẫn chưa t́m được nơi vừa ư, đành phải dừng chân ở quán nước nghỉ ngơi..."

Một kẻ chăn trâu ở mướn mà luận bàn với các ông nho học ở làng về lẽ nho quân tử, nho tiểu nhân và kẻ chăn trâu anh hùng, kẻ chăn trâu tôi tớ... th́ đâu phải là kẻ b́nh thường trong thiên hạ.

Chuyện Đào Duy Từ rời bỏ quê hương ở Đàng Ngoài chạy vào Đàng Trong theo Chúa Nguyễn gắn liền với giai thoại một câu ca nói về mối quan hệ giữa một Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài với Đào Duy Từ ở Đàng Trong thời Trịnh - Nguyễn phân tranh.

Giai thoại kể rằng: Sau khi Đào Duy Từ bỏ vào Đàng Trong theo Chúa Nguyễn, Trịnh Tráng sai người đưa thư và lễ vật vào Nam chiêu dụ Đào ra Bắc với ḿnh. Đào không ra và gửi cho Chúa Trịnh bài thơ sau:
 

Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày c̣n không
Bây giờ em đă có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thủa nào ra?

Trịnh Tráng lại tiếp tục cho người vào gặp Đào Duy Từ một lần nữa. Ông vẫn không ra và gửi tiếp cho Chúa Trịnh hai câu sau :
 

Có ḷng xin tạ ơn long
Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen.

Trịnh Tráng tức giận bèn làm mấy câu hát nhắn với Đào:
 

Có ai về tới Đàng Trong
Nhắn nhe bố đỏ liệu trông đường về
Mải tham lợi, bỏ quê quán tổ
Đất nước người, dù có như không...

Giai thoại là thế chẳng biết hư thực thế nào. Phải đâu Đào "mải tham lợi, bỏ quê quán tổ" mà chỉ v́ B́nh Định là nơi đất lành th́ chim đến đậu, nơi đăi sĩ chiêu hiền, dưỡng nuôi bao tài năng văn hóa, văn học cho dân, cho nước. Câu ca bây giờ được giảng dạy ở nhà trường phổ thông lớp mười:
 

Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay!
- Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày c̣n không?
Bây giờ em đă có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thủa nào ra?

Câu ca đă một thời gắn liền với mảnh đất vốn trọng sĩ, đăi hiền có bề dày văn hóa lịch lăm và thượng vơ là B́nh Định.

Xem Thêm: http://e-cadao.com/tieuluan/cadaodongdao/nutamxuannoraxanhbiec.htm

Và bài của Giáo sư Phạm Thị Nhung (Paris)

Nụ Tầm Xuân Nở Ra Xanh Biếc

 G.S.Phạm Thị Nhung
 
 Trong kho tàng văn chương b́nh dân phong phú của dân tộc, những bài ca dao nói về t́nh yêu lứa đôi là nhiều hơn cả; nhưng không phải cuộc t́nh nào cũng đi đến hôn nhân tốt đẹp, mà đời sống thực tế , như ca dao chứng tỏ , đă có lắm cuộc t́nh lỡ v́ nhiều lư do khác nhau .Trong số những bài ca dao loại này , bài Nụ Tầm Xuân được xem là nổi tiếng nhất:
 
 Trèo lên cây bưởi hái hoa
 Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân .
 Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
 Em có chồng anh tiếc lắm thay !
 Ba đồng một mớ trầu cay
 Sao anh chẳng hỏi những ngày c̣n không ?
 Bây giờ em đă có chồng
 Như chim vào lồng , như cá cắn câu .
 Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
 Chim vào lồng biết thưở nào ra .


 
 Tương truyền bài ca dao trên gồm hai đoạn đối đáp giữa Chúa Trịnh Tráng và ông Đào Duy Từ .
 Nguyên vào thời Nam Bắc phân tranh , hồi đầu thế kỷ thứ 17 , chúa Trịnh Tráng đă nhiều phen cử đại binh vào Nam chinh phạt chúa Nguyễn mà vẫn không thành công , chỉ v́ nơi đây có nhiều chiến luỹ kiên cố , như luỹ Đồng Hới , luỹ Trường Dục ...
 
 Chúa Trịnh cho ḍ hỏi , được biết ông Đào Duy Từ , gốc người Thanh Hoá , Đàng Ngoài, hiện là quân sư cho Chúa Nguyễn , đă giúp nhà Chúa đắc lực trong việc chấn chỉnh nội trị cũng như trong việc xây thành , đắp luỹ để chống chọi với quân Bắc Hà . Hối tiếc v́ đă không trọng dụng họ Đào từ trước , để ông trốn vào Nam phù trợ chúa Nguyễn , Trịnh Tráng bèn sai người ngầm đem phẩm vật ban tặng họ Đào với bốn câu ca dao nhắn gửi : -Trèo lên cây bưởi hái hoa
 Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân .
 
 Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc Em có chồng, anh tiếc lắm thay !
 
 Biết ư chúa Trịnh muốn chiêu dụ ḿnh , Đào Duy Từ rất khó xử , v́ mồ mả tổ tiên c̣n ở Đàng Ngoài nên không dám cự tuyệt . Nhớ lại tích Trương Tịch đời Đường xưa , sống trong cảnh loạn ly , họ Trương cũng đă rơi vào trường hợp éo le như ông , sau giải quyết được êm thấm là nhờ bài “Tiết Phụ Ngâm” mà giải bày được cảnh ngộ : -Gái tiết nghĩa không thể lấy hai chồng , khác nào trai trung liệt không thể thờ hai chúa .
 
 Đào Duy Từ bèn bắt chước Trương Tịch , mượn lời một người thiếu phụ tạ t́nh khác để trả lời chúa Trịnh :
 
 -Ba đồng một mớ trầu cay
 Sao anh chẳng hỏi những ngày c̣n không ?
 Bây giờ em đă có chồng
 Như chim vào lồng , như cá cắn câu .
 Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
 Chim vào lồng biết thưở nào ra .
 
 Tất nhiên bài ca dao trên được truyền tụng sâu rộng trong dân gian (ngày nay giới trẻ cũng biết nhiều qua bản phổ nhạc của Phạm Duy) không phải v́ lư do chính trị như vừa kể, mà v́ tính chất trữ t́nh đặc thù của nó .
 
 Bài ca dao chỉ vỏn vẹn có mười câu thơ viết theo thể song thất lục bát biến thức , nhưng đă cực tả được một cuộc t́nh lỡ đầy thơ mộng và cũng đầy cảm khái .
 
 Trước hết, bốn câu thơ đầu (c.1-4) giới thiệu cho ta biết hoàn cảnh, t́nh cảm và tâm trạng của chàng trai.
 Người con trai rời quê hương đi du học phương xa đă mấy năm nay , một ngày nào đó chàng bỗng cảm thấy nhớ nhung tha thiết cô bạn láng giềng nơi quê nhà , và ư thức được rằng chàng đă thực sự yêu ai . Chàng thường lấy làm thích thú mỗi khi ôn lại những kỷ niệm chơi đùa cùng nàng trong thời niên thiếu vừa qua : -Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân …
 
 Càng ôn lại kỷ niệm xưa , chàng càng thấy ḿnh có hy vọng sẽ chiếm được trái tim của ai, ḷng mừng khấp khởi như đă nắm được hạnh phúc trong tay . Và chàng thấy hồi hộp khi tưởng tượng ra giây phút gặp lại người xưa . Cô hàng xóm bé bỏng ngày nào hẳn giờ đây đă dậy th́ , đă xinh đẹp lắm . Chàng sẽ nói ǵ khi gặp lại nàng đây ?Tất nhiên chàng sẽ thổ lộ cho nàng nỗi nhớ niềm thương của ḿnh . Nàng sẽ … nàng sẽ phản ứng ra sao nhỉ ? Ngạc nhiên ? Không đâu , nàng phải đoán ra những cảm t́nh đặc biệt của chàng dành cho nàng chứ ?… Thật khó mà tượng tượng hết được … Chỉ biết rằng hiện tại tim chàng đang rộn ră yêu đương , và ḷng chàng đang chứa chan hy vọng .
 
 Khi vừa thành đạt trở về, chàng nôn nóng ngóng trông sang bên hàng xóm, sao lạ chưa, không hề nghe thấy tiếng nàng nói cười, và “bên hiên vẫn vắng bóng nàng”( thơ N. Bính) .Ḍ hỏi cha mẹ, chàng mới hay nàng đă bị gia đ́nh ép gả chồng xa, nay th́ đă yên bề gia thất .
 
 Hỡi ơi ! Cả bầu trời như xụp đổ dưới chân chàng , chàng đau đớn nghe ḷng ḿnh như tan vỡ ra hàng trăm ngàn mảnh . Thương cho ai mà lại tiếc cho ḿnh!
 
 Cơn xúc động lắng dần, trách ai bây giờ ? Chàng chỉ biết ôn lại những kỷ niệm cũ. Chàng nhớ rất rơ , tất cả mới như ngày hôm qua , chàng sống lại với từng tiếng nói, tiếng cười, từng cử chỉ của ai . Như một cuốn phim ,những kỷ niệm thân yêu xưa cứ diễn đi diễn lại trong nỗi nhớ thương , tiếc hận của chàng … Bỗng bên hàng xóm có tiếng người lao xao, nghe vẳng lại như tiếng nói của ai xưa . Chàng chồm dậy, chạy vội ra khu vườn tuổi thơ, " -Trèo lên cây bưởi hái hoa...." Chàng lập lại những động tác như hồi c̣n thơ ngây một cách vô thức ... Hồi ấy , mỗi khi nh́n thấy nàng xuất hiện ngoài vườn, th́ chàng, nếu đang rảnh rỗi, thế nào cũng chạy ra trèo cây, hái hoa , chơi đùa cùng nàng . Hai nhà chỉ cách nhau có một hàng giậu thưa, trồng hoa hồng tầm xuân, chàng và nàng chi cần lách rào là có thể sang được vườn nhà nhau dễ dàng.
 
 Chúng tôi xin nhắc lại, chàng trai trẻ của chúng ta lúc này đang trèo cây, hái hoa một cách vô thức như người mộng du: -Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà …
 
 Chàng vừa giơ tay chực ngắt bông hồng tầm xuân th́ mắt chàng chợt nh́n thấy người đẹp -Trời hỡi ! Nàng ! Chính nàng ! Nàng đẹp quá đỗi khiến chàng sửng sốt . Đúng lúc chàng bừng tỉnh cơn mộng mê th́ lại ch́m vào một cảm giác choáng ngợp v́ xúcđộng trước nhan sắc lộng lẫy của ai. Rồi ư thức t́nh cảm tiếc hận trỗi dậy khiến chàng không thể không thốt lời cảm thán : -Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc Em có chồng, anh tiếc lắm thay !
 
 Nhưng tại sao nụ tầm xuân lại không nở cánh màu hồng mà lại màu xanh , xanh biếc cơ ? Cái khúc mắc là ở chỗ đó . Xin thưa , chúng ta có nhiều cách lí giải:
 
 Đơn giản nhất cho rằng nụ tầm xuân mới nhú nơi đầu cành , c̣n ở thể trạng một nụ hoa xanh ngắt .
 Nếu như vậy câu thơ sẽ mất đi sức sống , h́nh ảnh sẽ thiếu sinh động , rực rỡ và ư thơ trở nên nghèo nàn . Vả không ai ngắt một nụ hoa c̣n xanh ngắt để chơi , nhất là để tả nhan sắc người đẹp .
 
 Vậy hoa tầm xuân ở đây thuộc loại hoa có cánh màu xanh ? Theo một số các bô lăo cho biết th́ tầm xuân, một loại hoa hồng dại , thường trồng bên hàng giậu nơi quê nhà , có cánh hoa màu hồng , thảng khi mới có màu trắng hay màu vàng . Trong trường hợp này , theo thiển ư , chúng ta có thể giải thích như sau :
 
 - Khi đôi mắt chàng trai của chúng ta đă “bám chặt” vào cô bạn láng giềng hết sức xinh đẹp và rất mực thương yêu của chàng th́ chàng c̣n nhớ ǵ đến màu hoa tầm xuân hồng hay xanh nữa . Nhưng không phải chàng nói “Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc” mà không có lư do .
 
 Khi từ cây bưởi bước xuống, dù vô ư đến đâu , mắt chàng cũng phải nh́n thấy đám hoa cà xanh xanh ở dưới chân ḿnh . Và dù đang trong cơn mê mẩn tâm thần, không để ư hoa cà màu ǵ , nhưng trong tiềm thức chàng vẫn biết :
 
 -Chơi hoa phải biết mùi hoa
 Hoa lê th́ trắng , hoa cà th́ xanh. (Ca dao)
 
 V́ thế , khi vừa có ư giơ tay ngắt bông hoa tầm xuân , chàng chợt nh́n thấy nàng :
 
 - Nàng đẹp quá ! Vâng nàng đẹp quá ! Chàng phải khen tặng nàng , nhưng không thể nói một cách sỗ sàng như thế , mà phải khen bóng bẩy , tế nhị kia … , phải rồi , nàng đẹp như một nụ hoa … hoa ǵ ? Hoa tầm xuân ! (Ư tưởng định giơ tay ngắt bông tầm xuân vừa có đó) . Hoa đẹp v́ sắc . Hoa tầm xuân sắc ǵ ? Đang cơn xúc động , chàng không c̣n đầu óc để nhận định , chàng liền liên kết nó với màu xanh xanh của hoa cà vừa xuất hiện trước đó . Thế là nụ tầm xuân của chàng bỗng nhiên mang màu xanh !
 
 Nhưng màu xanh của hoa cà ngả sang tim tím , nhàn nhạt , tầm thường lắm . Không , nụ tầm xuân của chàng phải nở ra những cánh hoa xanh mơn mởn nguyên trinh, ngát một màu xanh rất tươi , rất thắm..., phải rồi, một màu xanh biếc , một màu xanh tâm tưởng! -Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc !
 
 Thế là màu hoa tầm xuân của chàng trai đă rời khỏi màu sắc hiện thực của ngoại giới để trở thành màu" xanh biếc "của tâm giới. Có thế mới đủ diễn tả sắc đẹp kiều diễm của người chàng yêu và ḷng ngưỡng mộ của chàng lúc đó .
 Chỉ một sát-na của thời gian , bằng ấy sự suy luận , tưởng tượng, so sánh , cân nhắc, liên kết h́nh ảnh , màu sắc và nỗi xúc động bởi t́nh yêu đắm đuối cùng trước nhan sắc rực rỡ của người xưa đă diễn ra trong tâm trí của chàng trai, để thoát ra thành một lời khen tặng vừa bóng bẩy , ư nhị , vừa thâm trầm , thắm thiết: -Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc !
 
 "Nụ tầm xuân " chẳng những tượng trưng cho nhan sắc của cô bạn láng giềng, sằc đẹp của nàng càng xinh tươi, kiều mỵ bao nhiêu (nở ra xanh biếc) , mà đồng thời c̣n cho tinh yêu của chàng trai, t́nh chàng càng bồng bột , say đắm , thuần khiết bao nhiêu( nở ra xanh biếc) th́ ḷng tiếc hận của chàng càng thống thiết bấy nhiêu : -Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc Em có chồng anh tiếc lắm thay !
 
 Chỉ một câu thơ giản dị ấy thôi , chàng đủ thổ lộ hết cùng nàng cái tâm sự yêu đương tha thiết , và nỗi ḷng tiếc hận không cùng của ḿnh . Và cả hai câu thơ trên rút lại chỉ một chữ “tiếc” đủ gói ghém trọn ư .
 Thật vậy , người ta đă hỏi nàng làm vợ , đă lấy nàng v́ những lư do nào chàng không cần biết , nhưng đối với chàng , nàng là viên bảo ngọc vô giá :
 
 Nàng là tượng trưng cho tất cả những kỷ niệm hạnh phúc của chuỗi ngày niên thiếu thơ ngây ;
 Nàng là tất cả nỗi nhớ niềm thương trong thời gian xa cách ;
 Nàng là tất cả sự khích lệ khiến chàng cố gắng phấn đấu học hành , xây dựng sự nghiệp , để mau chóng thành công trở về ;
 
 Nàng là đoá hoa hồng tầm xuân lộng lẫy, là đối tượng của tất cả tấm ḷng bồng bột khao khát yêu đương ở tuổi thanh xuân của chàng .
 Quả là suốt hai mươi năm nay nàng đă không xa chàng , trong tiếp xúc gần gũi hay trong ḷng tưởng nhớ; thế mà giờ đây :" Em đă có chồng !" Đổ vỡ hết rồi , tiếc nuối biết bao nhiêu ! -Em có chồng , anh tiếc lắm thay !
 Tiếc … ! Tiếc lắm thay !
 
 C̣n cô láng giềng th́ sao ?
 
 Sáu câu thơ cuối (c.5-10) đă cho chúng ta biết về cảnh ngộ cùng tâm t́nh, thái độ của người con gái .
 Từ bao tháng rồi đi lấy chồng xa ,maĩ hôm nay nàng mới có dịp trở lại quê nhà .Vừa ra thăm khu vườn cũ ,nào ngờ được gặp lại người bạn trai hàng xóm thưở xưa . Chàng đi xa học hành , lập nghiệp từ năm, sáu năm nay , chàng đă trở về rồi đó ư ? Người thanh niên cao lớn đang đứng trước mặt nàng là chàng đó ư ?-Đúng rồi, người xưa đây mà ! Nàng vừa xúc động , vừa bối rối , thẹn thùng ...
 
 Suốt thời niên thiếu thơ ngây , chàng và nàng thường vui chơi thân thiết bên nhau . Từ ngày chàng ra đi , đôi khi nàng có thoáng thấy ḷng ḿnh nhớ nhung ai , nhưng măi đến tuổi dậy th́ , bắt đầu biết mơ mộng th́ h́nh ảnh ai kia mới thực sự ngự trị trong trái tim nàng ; và từ đó nàng âm thầm mong ngóng ai về . Trong thời gian này , có người đến dạm hỏi nàng làm vợ th́ nàng đều t́m hết cớ này, cớ nọ để thoái thác, nàng cố t́nh chờ đợi chàng...
 
 Năm tháng lặng lẽ trôi qua, chàng đă chẳng có lấy một lời nhắn gửi thăm hỏi , nàng tránh sao khỏi buồn tủi :
 
 -Duyên kia ai đợi mà chờ
 T́nh kia ai tưởng mà tơ tưởng t́nh !
 (ca dao)
 
 Nên đă có một ngày, nàng đành gạt nước mắt , nghe lời cha mẹ đi lấy chồng , một người chồng xa xứ mà trước đó nàng không hề quen biết , yêu thương . Hôm nay bỗng nhiên gặp lại người xưa , nàng xúc động và bối rối quá nên cũng chưa kịp ư thức được chàng đang làm ǵ ?… À ! "Trèo lên cây bưởi hái hoa , bước xuống vườn cà …" Chàng vẫn ưa trèo cây ,hái hoa như thời niên thiếu ngày xưa; và chàng đă nói ǵ với nàng? -Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc Em có chồng anh tiếc lắm thay !
 
 Trời hỡi ! Th́ ra chàng cũng yêu nàng , và đă muốn cùng nàng kết tóc xe tơ !
 Sung sướng và cảm động làm sao ! và nàng đă không khỏi tiếc nuối : -Ba đồng một mớ trầu cay Sao anh chẳng hỏi những ngày c̣n không ?
 
 Nàng có ư trách chàng sao quá chậm bước , đă không đi dạm hỏi nàng ngay khi nàng c̣n con gái. Có nghĩa là, nếu chàng hỏi nàng từ thưở ấy th́ nàng đă bằng ḷng . Qua câu này vô t́nh nàng đă thổ lộ t́nh yêu của ḿnh cho chàng hay .
 
 Hơn nữa, không chỉ ḿnh nàng bằng ḷng mà cha mẹ nàng cũng đă sẵn sàng đón nhận cuộc hôn phối này nên vẫn có ư nấn ná chờ đợi chàng về , và sẽ dành mọi dễ dàng cho chàng , chỉ cần : -“Ba đồng một mớ trầu cay “
 
 ( “một mớ trầu cay” là cách nói hoán dụ, lấy một phần để chỉ tổng thể lễ vật dạm hỏi gồm trầu, cau, trà, rượu)
 vâng, chỉ với lễ vật tối thiểu trong nghi thức đi dạm vợ đó thôi là gia đ́nh nàng sẽ chấp nhận cho chàng làm rể , vậy mà chàng đă không sớm lo liệu .
 
 Năm tháng trôi qua , nàng đă đứng tuổi (thời xưa con gái 17,18 tuổi chưa có chồng đă bị coi là "ế"), vả lại cha mẹ chàng cũng không có một lời gấm ghé , hẹn ḥ , thế nên gia đ́nh nàng đành phải ép nàng lấy chồng .
 Hôm nay chàng và nàng được gặp lại nhau , hiểu rơ ḷng nhau (điều này hẳn là một niềm an ủi lớn cho họ , nhưng cũng v́ vậy mà nỗi tiếc hận của nàng và nhất là của chàng càng nhân lên gấp bội) , th́ than ôi ! đă quá muộn ; đă lỡ làng hết rồi !
 
 Nay nàng đă là gái có chồng , nàng ư thức rất rơ bổn phận của ḿnh, mặc dầu cuộc sống lứa đôi bị g̣ bó , không hạnh phúc “như chim vào lồng , như cá cắn câu” , nhưng nàng chấp nhận như một định mệnh đă an bài : -Bây giờ em đă có chồng Như chim vào lồng , như cá cắn câu .
 
 Nàng xin chàng hăy hiểu cho cảnh ngộ của nàng, và nàng cũng đă cam phận , mà đừng yêu thương , tơ tưởng , hy vọng ǵ nữa : -Cá cắn câu biết đâu mà gỡ Chim vào lồng biết thưở nào ra !
 Câu trả lời rất thành thực là tuy có buồn cho cảnh ngộ, nhưng cũng rất đúng đắn , dứt khoát của người thiếu phụ trước người bạn trai láng giềng thân thiết thuở xưa đang tỏ t́nh cùng nàng, đă làm ta phải cảm động và quí mến nàng .
 Nàng đă biết chế ngự t́nh cảm lăng mạn của ḿnh, biết dừng ở lúc phải dừng. Và dù lấy chồng không yêu thương, cuộc sống hiện tại không như ư, nhưng một khi đă làm vợ , nàng biết giữ bổn phận phải thủ tiết với chồng để duy tŕ sự yên ấm cho gia đ́nh . Nàng không giống như người tiết phụ của Trương Tịch , nhận ngọc của một chàng trai xa lạ , đem giấu trong dải yếm , khi ư thức ra bổn phận phải chung thuỷ với chồng mới trả ngọc lại cho người , với hai hàng nước mắt tiếc rẻ : -Hoàn quân minh châu song lệ thùy Hận bất tương phùng vị giá th́ .
 
 Để hết luận ta có thể nói, bài ca dao NỤ TẦM XUÂN chỉ với mười câu thơ ngắn ngủi để tả một cuộc tinh lỡ nhưng đă hội đủ những ưu điểm : nhạc thơ khi êm đềm , thanh thoát (ở những câu lục bát chỉ gieo toàn vần bằng) , lúc lại bổng trầm nức nở (ở những câu song thất gieo hai vần bằng, trắc xen nhau) ;từ ngữ , h́nh ảnh th́ giản dị trong sáng nhưng vô cùng hàm súc,gợi cảm ; t́nh ư vừa thơ mộng thắm thiết lại vừa ngậm ngùi cảm kích … đă khiến nó dễ thấm sâu vào ḷng người . Đây quả là một bài ca dao trữ t́nh đặc sắc ,vừa có
giá trị nhân bản, vừa có giá trị nghệ thuật rất cao của dân tộc .

Phạm Thị Nhung, G.S.

 

Nụ Tầm Xuân

Cây tầm xuân nhiều nơi trên đất Bắc gọi là hoa hồng dây hay hồng leo, có tên khoa học là Rosa multiflora thunb, họ Rosaceae. Người xứ khác gọi là dă tường vi, là một loài hoa gần giống hoa hồng, mọc dại, thường nở vào mùa xuân. Loài hoa này chẳng cần chăm chút mà vẫn có sức sống, có hương sắc. Đó là loài hoa có màu trắng, đỏ hay hồng nhạt…, cánh mềm, hoa mỏng mảnh nhỏ xinh, hương thơm thanh bạch mà ngan ngát. Nó sống, sinh sôi nảy nở, làm nên sức sống vừa hoang dă , vừa thơ mộng. Và hơn nữa, hương sắc của nó dường như đón cả mùa xuân.

Nụ tầm xuân có màu trắng, màu hoa ấy từ ngàn xưa đă có màu trắng. Nhưng trong một bài ca dao lại có đoạn: “nụ tầm xuân nở ra xanh biếc”. Màu xanh ấy có phải là màu xanh trong mắt một kẻ si t́nh? Hay màu xanh ấy là màu xanh của sự thất vọng “em đă lấy chồng”. 

Tác giả Phan Bảo Thư khi bàn về Nụ Tầm Xuân Nở Ra Xanh Biếc, đă viết:

Xin Chia sẻ cùng Thân hữu hôm nay: Nụ Tầm Xuân.

Trèo lên cây bưởi hái hoa,

Bước ra vườn cà hái nụ tầm xuân,

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,

Em lấy chồng anh tiếc lắm thay…

 

Những câu ca dao với lời và ư thật nhă đă được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhac đóng góp vào những bản nhạc xuân. Từ ngữ “xuân ” trong danh từ “nụ tầm xuân ” dễ gợi cho mọi người những ư nghĩ về tuổi trẻ; những hoài niệm về thuở ầu thơ với những tưởng tượng mơ hồ về hính dáng của loài hoa: HOA TẦM XUÂN hay NỤ TẦM XUÂN NỞ RA XANH BIẾC. Nhưng, …thật sự có thứ nu tầm xuân nở ra xanh biếc hay không ? V́ nhiều người cho rằng nụ tầm xuân chỉ là những cánh hoa hồng dại làm ǵ có màu xanh biếc ?

Để nhận ra xem có c̣n loài hoa tầm xuân nào mà nụ nở ra xanh biếc nữa chăng bài viết này sẽ đề cập đên những dữ kiện liên quan đến nụ tầm xuân.

Trước hết như nhiều người công nhận rằng hoa tầm xuân chỉ là một chi nhánh của loài hoa mọc hoang dại trong họ hoa hồng. Tầm Xuân c̣n có những tên khác là: thích hoa, bạch tàn hoa, thích mi, ngưu cúc, thập tỉ muội, thất tỉ muội, dă tường vi. Hoa co’ màu trắng hay hồng; c̣n màu “xanh biếc” trong câu thơ th́ tac giả đă túng vận nên chỉ nói cho suôn, cho hợp với vần “iếc” trong từ ngữ “tiếc” của câu sau. Chuyện túng vận đúng hay sai sẽ được đề cập ở phần sau. Và trong nhóm hoa thuộc họ nhà hồng này có những loài có tên khoa học là Rosa tunquinesis hay Rosa cymosa hay Rosa multiflora (Wikipedia) và có nguồn gốc từ Âu châu, Tây Á.

Sách Và tài liệu của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ cũng như Vơ Văn Chi và Lê Khả Kế chỉ cho thấy Tầm Xuân thuộc họ nhà Hồng (Rosaceae) với các loài sau: Rosa tunquinensis (Tầm Xuân Bắc hay c̣n gọi là Quầng quầng), Rosa cymosa (Tầm xuân-hồng choắt-hồng roi), Rosa multiflora (Tầm xuân đa hoa). Tự điển của Nguyễn Đ́nh Hoà dịch chữ Tầm Xuân sang tiếng Anh là dogrose: hồng chó hay hồng cẩu, thật không thanh lịch lăng mạn ǵ hết v́ tất cả các loài hoa hồng này chỉ là những loài hoa mà cành cây đầy gai góc và màu hoa th́ từ trắng đến màu hường nhạt không có loài nào nở ra xanh biếc.

Từ Nguyên tự điển chỉ ghi Tầm Xuân là đi t́m mùa xuân, có mấy câu thơ liên quan đến ư nghĩa của hai chữ Tầm Xuân:Tầm Xuân du thượng lộ

Truy yến nhập tiên gia [ Trần Tử Ngang]hay:

Ngu hanh` tương cấm hoa

Thập bộ tưởng tầm xuân [Mạnh Hạo Nhiên].Thi nhân của nền Văn chương Hoa Việt cũ không có nhiều cảm hứng trước loài hoa tầm xuân v́ nó hiếm hoi hay v́ hương sắc quá khiêm nhường trước những mẫu đơn, hải đường, hoàng mai, tịnh lan, …nhưng dù hiếm hoi th́ “nụ tầm xuân’ cũng đă có tên trong nền văn chương Đai Việt. Như đă nói, t́nh, ư gởi gắm trong mấy câu ca dao thật yêu kiều và lăng mạn và cũng đă có một giai thoại của lịch sử về chúa Trịnh Tráng ở Đàng Ngoài và vị khai quốc công thần Đào Duy Từ ở Đàng Trong trong giai đoạn mở đầu của thời Trịnh – Nguyễn phân tranh.Là một đấng thiên tài nhưng lại sinh ra từ một gia đ́nh xướng ca họ Đào không thể tiến thân bằng con đường khoa cử nơi đất Bắc, đành phải dung thân, t́m chân chúa nơi “Đạo Hoành-sơn “. Noi theo chí lập thân của người xưa, theo cách cũ của Bách Lư Hề, Ninh Thích gơ sừng trâu mà đủng đỉnh ngâm khúc “Ngoạ Long Cương “. Chúa Săi Nguyễn Phúc Nguyên đă “già ” đoán anh hùng giữa chốn trần ai. Rồng mây gặp hội, Đào Duy Từ đă đem hết tài kinh luân giúp chúa Nguyễn an bang tế thế, vững bền biên thuỳ một cơi nguy nga ở phương Nam, sá ǵ Trịnh phủ hiếp đáp vua Lê ở Bắc Hà mà không dám đương đầu : dư bất thụ sắc!Thành tích và chiến công của Đào Duy Từ đến tai chúa Trịnh, Trịnh Tráng sai người mang lễ vật cho Đào Duy Từ với lời ân hận đă bỏ lỡ cơ hội cho cuộc tương phùng:

Trèo lên cây bưởi hái hoa,

Bước ra vườn cà hái nụ tầm xuân;

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,

Em lấy chồng anh tiếc lắm thay.

Lễ vật và t́nh ư không chiêu dụ được Đào v́ ông đă t́m ra chân chúa, ông đă trả lời Trịnh Tráng:

Ba đồng một mớ trầu cay,

sao anh không hỏi những ngày c̣n không ?

Bây giờ em đă có chồng,

Như chim vào lồng, như cá cắn câu.

Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,

Chim vào lồng biết thuở nào ra !

Lời từ chối nhẹ nhàng nhưng khéo léo; Trịnh Tráng lại cho người chiêu dụ một lần nữa; lần này ho Dao`quyết liệt hơn:

Có ḷng xin tạ ơn ḷng,

Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen.

Trịnh Tráng không c̣n kiên nhẫn nữa; tức giận:

Có ai về tới Đàng Trong,

Nhắn nhe Bố Đỏ liệu trông đường về;

Măi tham lợi bỏ quê quán tổ,

đất nước người dù có như không.

Không biết ai là tác giả của những câu ca dao ấy, Trinh Tráng và Đào Duy Từ sáng tác hay là chỉ góp nhặt từ trong dân gian như viên đá quư trong đám sỏi đá của văn chương b́nh dân mà họ đă gặp trên đường đi. Cho dù tác giả là ai th́ những viên đá hay những thanh kiếm bắt gặp trong án thư của vương phủ hay của một đại thần phải là một viên đá quư không có tỳ vết hay là thanh bảo kiếm không hoen rỉ. Chúa Trinh đă dùng lời lẽ trong mấy câu thơ để chiêu dụ hiền tài th́ đó không thể là cau thơ của một thi sĩ túng vận. Một chút dài ḍng văn tự trên đây chắc cũng đủ để nhận chân giá trị bài thơ.

Tô Đông Pha chắc phải thẹn thùng nhiều lắm về chuyện sửa câu thơ của Vương An Thạch sau khi nhận ra sự hiện hữu của loài chim có tên Minh Nguyệt và loài sâu có tên Hoàng Khuyển. Hy vọng chúng ta không phạm phải lỗi lầm của người xưa; chớ vội nói rằng câu ca dao câu ca dao trên đă có sự túng vần trước khi nhận dạng ra một loài hoa Tam Xuân nở ra xanh biếc.

Thật vậy.

Bàn trở lại về cách gieo vần của bài thơ, đây là bài thơ theo thể lục bát thất ngôn, vần iếc trong chữ biếc của câu thứ ba[câu thất thứ nhất] sẽ được nối vần với chữ thứ năm của câu thất thứ hai [chữ tiếc]. Khi đưa ra chữ biếc để gieo vần tác giả có hoàn toàn tự do v́ chưa phải t́m vần. Nếu chữ tiếc, chữ thứ năm của câu thất thứ nh́ [câu thứ tư của bài thơ] gieo đúng vần với chữ biếc mà không có nghĩa th́ mới nói là câu thơ bị ép vần v́ thi sĩ đang bị túng vần. Tóm lại ở đây thi sĩ có hoàn toàn tự do để viết (nói ) ra rằng nụ tầm xuân nở ra xanh biếc. Phải có một thứ Nụ Tầm Xuân nở ra xanh biếc.

Lịch sử c̣n đó, Thanh Đô Vương Trịnh Tráng và Nội tán Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ đă đi vào lịch sử, chuyện chiêu dụ và khước từ cũng đă rơ ràng nhưng câu chuyện văn chương th́ vẫn c̣n là những ẩn khuất. lấy ǵ làm bằng chứng rằng hai bậc vương hầu Trịnh-Đào đă đối đáp với nhau bằng những câu ca dao như thế. Văn khố nào lưu giữ bút tích của người xưa ? Chắc là khó v́ xét cho cùng th́ đó là những bí mật quân sự. Khó t́m thấy câu chuyện văn chương này trong những thư tịch khả tín nhưng giai thoại th́ vẫn đồn đăi, lưu truyền trong dân gian. Không có lửa sao có khói hay là chúng ta dễ dăi một chút, chấp nhận câu chuyện qua lời truyền tụng của nhân gian. Tư-mă Thiên, đệ nhất sử gia Trung quốc đă không t́m tài liệu từ những lời nói lưu truyền trong dân gian đó sao ! Và rồi nếu câu chuyện văn chương có thật th́ hoa tầm xuân nở ra xanh biếc cũng có thật. Phần khẳng định này phải nhờ đến những nhà nghiên cứu văn học và những nhà thực vật hoc.

Sách Và tài liệu của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ cũng như Vơ Văn Chi và Lê Khả Kế chỉ cho thấy Tầm Xuân thuộc họ nhà Hồng (Rosaceae) với các loài sau: Rosa tunquinensis (Tầm Xuân Bắc hay c̣n gọi là Quầng quầng), Rosa cymosa (Tầm xuân-hồng choắt-hồng roi), Rosa multiflora (Tầm xuân đa hoa). Tự điển của Nguyễn Đ́nh Hoà dịch chữ Tầm Xuân sang tiếng Anh là dogrose: hồng chó hay hồng cẩu, thật không thanh lịch lăng mạn ǵ hết v́ tất cả các loài hoa hồng này chỉ là những loài hoa mà cành cây đầy gai góc và màu hoa th́ từ trắng đến màu hường nhạt không có loài nào nở ra xanh biếc.Vậy tai sao c̣n có một nhà thơ vẫn ngâm nga:

Chạm vào một nhánh Tầm Xuân,

Vẫn xanh biếc nụ, vẫn ngần ấy hương.

” vẫn xanh biếc nụ, vẫn ngần ấy hương” xem ra th́ thi sĩ đă quen thuộc với hoa Tầm xuân lắm và hy vọng rằng lần này thi nhân nhắc đến tên tầm xuân với màu xanh biếc không phải là một sự mô tả theo lối ước lệ v́ tác giả câu thơ đă từng quen nh́n tầm xuân nên thấy “vẫn” xanh biếc nụ và đă từng quen thuộc với mùi hương hoa nên cũng chỉ ngửi thấy “ngần ấy hương”. Và như vậy th́ phải có một loại hoa tầm xuân có màu xanh biếc.

Theo công tŕnh nghiên cứu của Nguyễn Xuân Đức th́ có một loại hoa họ đậu được phân phối nhiều ở duyên hải miền Trung Việt nam có tên là Tầm Xuân hay c̣n gọi là hoa Đâu biếc có màu xanh tím.

Theo những nghiên cứu của Nguyễn Xuân Đức th́ hoa Tầm Xuân có nhiều ở duyên hải miền trung Việt nam từ Thanh hoá Nghệ an đến B́nh Thuận. Hoa thuộc họ đậu sắc màu xanh tím nên c̣n có tên là hoa đậu biếc.

Theo nhà thực vật học, giáo sư Nguyễn Thiện Tích ở Đai Học Khoa Học đường Saigon [nay là Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên] th́ giống hoa này có chung một họ mà tên khoa học là Clitoria . Cái tên thật dễ gợi đến phần nhạy cảm nhật trong cái “vưu vật tôn nghiêm” của cơ thể phụ nữ: “Clitoris”. Thuộc ḍng ho Clitoria này có những chi mariana, blue pea, vine, fragan, macrophylla, alba, … Có lẽ ví lư do thỗ nhưỡng, khí hậu mà loài hoa chỉ xuất hiện ở duyên hải miền trung Việtnam. Có lẽ vùng Thanh hoá Nghệ an, miền đất tổ của Thanh Đô Vương Trịnh Tráng không hiếm loài hoa này và Thanh Đô Vương đă có dịp hội kiến loài hoa mang nhiều đặc tính lăng mạn, hoa Tầm Xuân.

Tự điển Việt Anh của Nguyễn Đ́nh Hoà dịch tên Tầm Xuân từ tiếng Việt sang tiếng Anh là dogrose. Cái tên dễ làm thất vọng những ai có tâm hồn lăng mạn v́ nó đă làm mất đi tất cả những thi vị của tên gọi Tầm XuânNhưng ngoài câu ca dao trên c̣n vài câu thơ như là :

Dáng tầm xuân uốn trong tranh tố nữ

Ôi tiên nương nàng lại ngự nơi đây,

Mắt ngời châu rung ánh sáng nghê thường, [ Bích Khê- Bức Tranh Tố Nữ].

Loài hoa hồng th́ chắc là không thể khêu gợi, uốn éo như lời thơ của Bích Khê . Có lẽ Bích Khê, thi sĩ của thi sĩ sinh trưởng trên vùng đất của sông Thu bồn, núi Thiên ấn có dịp ngắm nh́n những đoá Tầm Xuân thuộc họ đậu lăng mạn Clitoria mariana hay Clitoria ternatea này chăng ?

Xem như thế th́ có hai nhóm hoa Tầm Xuân: nhóm thứ nhất thuộc loại nhà hồng với Rosa cymosa, Rosa multiflora, Rosa tunquinensis và nhóm thứ hai thuộc họ đậu như: Clitoria mariana, Clitoria ternatea, … Không biết nhạc sĩ Xuân Tiên đă dề cập đến loài hoa Tầm Xuân nào khi soạn “Khúc Ca Ân T́nh” …”một ngày t́m về phương Bắc, hái hoa Tầm Xuân trao nàng…”

Hoa cỏ th́ đă có từ bao nhiêu triệu năm trước khi loài người xuất hiện trên hành tinh này, xét cho cùng th́ cũng chỉ là những thứ hữu thể vô thường. Có thể chúng ta đă chiêm ngưỡng với nét đẹp tưởng tượng qua mấy ca dao trước khi thực chứng căn cước của loài hoa của Hoa Tầm Xuân. Nét đẹp trong huyễn tưởng bao giờ cũng lăng mạn và mỹ miều hơn trong thực tế và nhắc nhở nhiều đến những hoài niệm ấu thơ.Nụ Tầm Xuân rộn hương ngày cũ,

Hoa bưởi thơm trắng tụ vườn xưa.

Để trời đừng nắng đừng mưa,

Chỉ hiu hiu gió cho vừa nhớ thương.

Đ́nh Lạc Giao

Đào Duy Từ, Thần Hoàng đ́nh Lạc Giao

 

Đ́nh Lạc Giao ở thành phố Buôn Ma Thuột h́nh thành năm 1928, là đ́nh làng đầu tiên của những người Việt (Kinh) từ đồng bằng lên đây lập nghiệp. Là nơi thờ Thần Hoàng (c̣n gọi là Thành Hoàng), là người có công lập làng. Đ́nh cũng là nơi diễn ra các sinh hoạt tập tục có tính cộng đồng, cũng là nơi tôn thờ các anh hùng đă có công lớn trong việc bảo vệ, xây dựng làng.

Năm 1932, Vua Bảo Đại đă ban sắc tứ phong cho Đào Duy Từ là Thần Hoàng của đ́nh Lạc Giao. Nhân vật được sắc phong Thần Hoàng là một danh nhân văn hoá, một tài năng lớn trong nhiều lĩnh vực: Chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá … đặc biệt ông là người có công mở mang đất nước, xây dựng nên nhiều vùng đất mới.

Đào Duy Từ (1572-1639): Tác giả Ngọa Long Cương Văn, giúp chúa Nguyễn mở cơ nghiệp.

 

Chính điện

“Dưới thời Lê Trung Hưng (1532 - 1788) Đào Duy Từ là con một kép hát ở Thanh Hoá, không được dự thi, phẫn chí ông bỏ Đàng Ngoài vào Đàng Trong sống với Trần Đức Hoà (Quy Nhơn) lúc nhàn rỗi, ông lấy phác làm vui, nhân đó mà Châu Ta (tức B́nh Định) được di phong.

Vũ khúc Tam tinh chúc thọ: Có nghĩa là ba sao chúc sống lâu. Đó là ba sao Phúc, Lộc, Thọ. Vũ khúc này được dùng trong dịp lễ vạn Thọ, múa chúc thọ nhà vua. Đến đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, Đào Duy Từ sửa lại để múa vào các ngày lễ Vạn Thọ, Thánh Thọ, Tiên Thọ, Thiên Xuân, ngụ ư chúc nhà vua phúc - lộc - thọ kiêm toàn.

Vũ khúc Múa quạt: (Vũ phiến), cũng do Đào Duy Từ đặt ra, múa vào các buổi yến tiệc, tân hôn dành cho Hoàng Thái Hậu, Hoàng Hậu, phi tần, công chúa thưởng lăm

Vũ khúc Tứ linh: Là bốn loài thú linh thiêng: Rồng (Long), Kỳ lân (Long hay Ly), rùa (Quy) và chim Phượng (Phụng). Vũ khúc này có từ thời cổ được Đào Duy Từ chỉnh biên lại để múa vào những ngày Vạn thọ, Thánh thọ, Tiên thọ, Thiên xuân và cúng Mụ.

Vũ khúc Nữ tướng xuất quân: Múa trong những ngày lễ chiến thắng, Hưng quốc Khánh niệm, những buổi dạ yến và tiếp sứ thần nước ngoài. Vũ khúc này do Đào Duy Từ đặt ra để ghi nhớ công đức Hai Bà Trưng có công đánh giặc giữ nước.

Vũ khúc Tam quốc - Tây du: Cũng do Đào Duy Từ đặt ra để diễn lại sự tích những vị anh hùng chiến đấu v́ dân v́ nước. C̣n riêng điệu múa Tây Du nhằm làm siêu thoát âm hồn thập loại chúng sinh. Vũ khúc Tam Quốc - Tây Du múa vào các ngày lễ Vạn thọ, Khánh thọ và Tiên thọ.

Vũ khúc Đấu chiến thắng Phật: Múa vào các ngày lễ Vạn thọ Khánh thọ, Tiên thọ và cúng Mụ. Đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, Đào Duy Từ đem kinh Phật đặt ra vũ khúc này chủ yếu để trừ yêu ma quỉ chướng. V́ điệu múa có hai vị thần là Tề Thiên Đại Thánh và Hộ Pháp nên cũng gọi là múa song quang.

 

 

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Hỗ Trợ Kỹ Thuật

Hoàng Vân, Julia Nguyễn

Web Database

Nguyễn Hoàng Dũng
Xin vui ḷng liên lạc với  haphuonghoai@gmail.com về tất cả những ǵ liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 10/19/17