Home T́m Ca Dao Diễn Đàn T́m Dân Ca Phổ Nhạc T́m Câu Đố T́m Chợ Quê Góp Ư Tân Nhạc Nhạc Dân Ca

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Diêu Dụng
 
Dẫn Giải
Cảm Nghĩ
Chợ Quê
Chữ Nôm
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
English
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Liên Mạng Thành Viên
HPH
Hồng Vũ Lan Nhi 1 & 2
 

Download Unicode Windows 98

T́m Bài Trong Toàn Trang Ca Dao Tục Ngữ bằng

CHƯƠNG 1 :   CÁC THỂ LOẠI VĂN VẦN DÂN GIAN

VÈ 

  1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VÈ

  2. PHÂN LOẠI VÀ NỘI DUNG VÈ

  3. ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA VÈ

TỤC NGỮ

  1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỤC NGỮ

  2. NỘI DUNG TỤC NGỮ

  3. NGHỆ THUẬT CỦA TỤC NGỮ

  4. VỀ TỤC NGỮ MỚI

CÂU ĐỐ

  1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÂU ĐỐ

  2. NỘI DUNG CÂU ĐỐ

  3. PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT

CA DAO

  1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CA DAO

  2. NỘI DUNG CA DAO

  3. NGHỆ THUẬT CA DAO

  4. VÀI NÉT VỀ BỘ PHẬN CA DAO THỜI KỲ ĐẤU TRANH CHỐNG THỰC DÂN VÀ ĐẾ QUỐC


 
I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VÈ
1.      Khái niệm
Trong loại tự sự dân gian Việt Nam, chủ yếu có truyện và vè. Truyện dân gian có lối kể bằng văn xuôi, có thể là văn vần. C̣n vè bao giờ cũng là văn vần.
Trong Đại Nam quốc âm tự vị, vè là chuyện khen chê có ca vần, và việc sáng tác vè là đặt chuyện khen chê có ca vần. Định nghĩa này c̣n đơn giản, nhưng đă nêu được những đặc trưng cơ bản của vè.
Nếu ca dao là từ Hán Việt, th́ vè là một từ thuần Việt. Vè là một thuật ngữ văn học dân gian có liên quan với từ vè trong vần vè. Vè là thể loại tự sự dân gian bằng văn vần, có cơ sở từ lối nói vần vè của nhân dân, chủ yếu nhằm phản ánh kịp thời và cụ thể những chuyện về người thật, việc thật ở từng địa phương, những sự kiện có ư nghĩa trong đời sống nhân dân.
Ở vè, việc xác định thể loại một số tác phẩm văn vần có phải là vè hay không, hoặc hiện tượng gọi vè lục bát là thơ là một vấn đề cần quan tâm, mặc dù việc phân định cũng không phức tạp.
Về tiến tŕnh phát triển, vè có từ bao giờ chưa thể khẳng định dứt khoát. Có thể vè đă manh nha từ trước, nhưng chỉ phát triển thành thể loại lớn từ thế kỷ XVI, đặc biệt là thế kỷ VXII về sau, đáp ứng nhu cầu bức thiết phản ánh thực tại xă hội một cách khẩn trương, nhanh gọn và sắc bén. Đại thể, vè  đă nảy sinh chủ yếu trong thời kỳ phong kiến, phát triển nhất trong thời kỳ cận đại ở các thế kỷ XVIII, XIX, XX. Sự xuất hiện của vè là một bước tiến mới của văn tự sự dân gian. Vè xuất hiện để kể chuyện theo cách có vần có nhịp, cùng với lối kể truyện bằng văn xuôi đáp ứng đầy đủ hơn việc biểu hiện nội dung các vấn đề xă hội nhân dân muốn nêu lên.
2. Đặc điểm
Tính địa phương
Vè phản ánh hiện thực ở từng địa phương nhất định, bộc lộ rơ thái độ của người dân địa phương trước những sự việc, sự kiện đó. Phạm vi những người quan tâm đến sự kiện được vè ghi lại, làn sóng dư luận về sự kiện ấy, sự lưu truyền bài vè đều mang tính địa phương rơ nét.
Có những bài vè ghi lại những sự việc, nói về nhân vật ở một địa phương nhất định, nhưng do tính chất tiêu biểu của sự việc, sự kiện, nhất là những sự kiện về lịch sử và nhân vật lịch sử, cho nên nó có thể phổ biến rộng răi ở những địa phương khác, có khi ở phạm vi toàn quốc. Song, đặc điểm tiêu biểu của vè vẫn là tính chất địa phương.
Vè Cầu Ngói Chợ Liễu, Vè anh Nghị lấy o Hương, Vè Năm Chơi, Vè Quản Hớn ...
Tính thời sự
Vè mang tính thời sự rơ nét. Các sự kiện trong quá khứ ít được vè quan tâm. Vè xuất hiện tức thời, nắm bắt nhạy bén sự việc, sự kiện, ghi nhanh, rồi truyền đi để gây dư luận.
Vè thách cưới, Vè băo năm Tỵ, Vè sai đạo, Vè thầy Thông Chánh ...
Vè có vận mệnh ngắn ngủi. Phần lớn các bài vè xuất hiện để đáp ứng việc phản ánh dư luận quần chúng trong một thời điểm nhất định, ở một địa phương nhất định. Thông thường người ta thường quên đi bài vè khi sự việc được phản ánh mất đi ư nghĩa thời sự. Thay vào đó là những bài vè mới hướng về những sự kiện mới.
Một đặc điểm khác, vè không kể chuyện theo lối bàng quan mà bộc lộ thái độ của nhân dân trước sự việc được phản ánh. Nhân dân chế giễu tệ nạn thách cưới, thói lười nhác, khoác lác, căm ghét bọn quan lại đục khoét mặc dân t́nh khốn khổ, ta thán về nạn thuế khóa, phu phen, tạp dịch nặng nề, mặt khác ca tụng những thành tích xây dựng làng xă, ca ngợi những người anh hùng ... V́ vậy, vè mang tính khuynh hướng rơ rệt. Vè có nét giống phóng sự, kư sự, bút kư trong văn học.
II. PHÂN LOẠI VÀ NỘI DUNG VÈ
            Theo tiêu chí thể thơ, có thể chia vè thành các loại: vè lục bát, vè nói lối...
            Theo tiêu chí đề tài, nội dung phản ánh, có thể phân vè thành 3 tiểu loại.
1.      Vè kể chuyện về loài vật, cây trái, sự vật
Đó là những bài vè kể về các loại thổ sản, các loài vật có trong tự nhiên, những sự vật hiện tượng quen thuộc trong đời sống mà người kể muốn thể hiện sự hiểu biết, hoặc muốn giới thiệu về miền đất.
Vè chim chóc, Vè trái cây,Vè cá, Vè rau, Vè các thứ lúa ...
-Nghe vẻ nghe ve,
Nghe vè chim chóc.
Hay moi hay móc,
Là con thằng chài.
Lông lá thật dài,
Là con chim phướn.
Rành cả bốn hướng,
Là con bồ câu.
Giống lặn thật sâu,
Là con cồng cộc ...
(Vè chim chóc).
Những bài vè về tôm cá rất phong phú:
-Đầu lớn chôm bôm,
Là con tôm tít.
Bắt người ăn thịt,
Là con tôm hùm.
Ăn ở bụi lùm,
Là con tôm cỏ.
Bắt bỏ vào trỏ,
Là con tôm lươn.
Gánh đất lấp đường,
Là con tôm đất.
Vô chùa lạy phật,
Là con tôm tu ...
(Vè cá tôm).
Đặc sắc phải kể đến vè rắn:
-...Đựng đầy một thúng,
Là rắn cạp nia.
Ăn rồi ngậm nghe,
Hổ hành nấu cháo.
Dữ mà nhỏ xíu,
Vốn thiệt rắn trung ...
(Vè rắn U Minh)
Ngoài ra những bài Vè nói ngược, Vè nói láo ... cũng thể hiện những ư nghĩa rất thiết thực.
-... Ngựa đua dưới nước,
Tàu chạy trên đồng.
Bảy mươi có chồng,
Mười lăm ở giá.
Ăn trầu bằng cán,
Hút thuốc bằng vôi.
Giă gạo bằng nồi,
Nấu cơm bằng cối.
Vác đá dồn gối,
Đắp nhà bằng bông,
Làm ruộng đi không,
Đánh bài cào vác cuốc...
(Vè nói ngược).
-...Nhà tôi có một cái nồi,
Để ba táo gạo mà nồi c̣n lưng.
Nhà tôi có một bụi gừng,
Nhổ lên đi bán độ chừng bốn xe.
Nhà tôi có một cây me,
Hái vô một trái bằng hũ ghè đựng tương ...
(Vè nói láo).
2. Vè thế sự  (vè sinh hoạt xă hội)
Khái niệm vè thế sự được hiểu bao hàm ư nghĩa vè sinh hoạt. Ở loại vè này, bên cạnh tính thời sự, tính địa phương rất nổi bật.
Vè thế sự miêu tả cụ thể, sinh động, trực tiếp đời sống nhân dân. Vè xuất hiện do nhu cầu phản ánh hiện thực một cách nhạy bén và kịp thời. Tính chất người thật, việc thật thể hiện rơ rệt trong các bài vè lấy đề tài ở các sự kiện thông thường của đời sống.
Vè thế sự có xu hướng chung là trào phúng. Nhiều bài vè đả kích những hành vi phương hại đến phong tục tập quán, đạo đức nhân dân, những hiện tượng không b́nh thường, những tệ trạng xă hội.
Vè thách cưới, Vè chửa hoang, Vè uống rượu, Vè nói dóc, Vè đánh bạc, Vè đi bối ...
-Thôi thôi ví lỡ ra rồi,
Bồng thử ra ngồi coi thử giống ai...
(Vè chửa hoang).
Vè ghi nhận thực trạng đời sống nhân dân. Loại vè có giá trị hiện thực hơn cả là những bài đả kích ách thống trị của bọn thực dân, phong kiến. Từ những sự kiện cụ thể trong đời sống sinh hoạt, nhân dân đă thấy được những nguyên nhân xă hội dẫn đến cuộc sống khốn cùng. Nh́n chung, vè đă miêu tả rất sinh động cuộc sống nhân dân, phản ánh hiện thực xă hội nước ta dưới ách thống trị thực dân phong kiến.
Vè băo năm Tỵ, Vè Cầu Ngói, chợ Liễu,  Vè thầy cai, Vè đi phu Cửa Rào...
Ở Vè Cầu Ngói, Chợ Liễu, đối tượng đả kích là bọn quan chức địa phương:
-Kẻ đêm sẩy hầm,
Người ngày sẩy hố,
Gánh đổ gồng nghiêng ...
... Làng nước xóm giềng
Than lan khổ sở ...
Tiền công thu vào,
Lúa công góp lại,
Nhưng đường sá hư,
Chỉ là dân sửa,
Nhưng cầu giếng lở,
Chỉ là dân xây;
Việc chi nỏ hay,
Chỉ lo cúng tế,
Tranh giành xôi thịt ...
Miệng em vú lấp,
Bị chị bánh đầy,
Sống mặc, chết mặc ! .
Ở bài vè Vua quan lại về tổn hại đến dân, tên chánh tổng Phù Lưu trở thành đối tượng đả kích trực diện bên cạnh bọn vua quan chuyên sách nhiễu nhân dân.
...Bây giờ hàng tổng đấp đê,
Vua quan lại về làm hại đến dân.
Quan trên ích lợi nhiều phần,
Để cho dân sự khổ thân thế này.
Một đoàn áo thụng đến đây,
Tập chào, tập vái, đến ngày vua ra.
Ô tô th́ đậu ngă ba,
Dân sự th́ đứng đàng xa mà nh́n.
Quan bắt gánh đá Rú B́n,
Rải một mạch liền: Tà Hạ về ta.
Roi song nó đập tuốt da,
Nó vô tận nhà nó bắt liên miên.
Bờ đường bắt cắm cờ liền,
Quan hàn th́ được ngân tiền vua ban.
Bài vè Cải dịch y phục thể hiện thái độ bất măn của người dân trước lệnh vua Minh Mạng:
Bước sang năm mới b́nh yên,
Chiếu vua hạ truyền:
Cải dịch y phục,
Quan huyện đă giục,
Lư trưởng, mục, tiên.
Lệnh vua đă truyền.
Bắt dân mặc cả.
... Mai phiên chợ Trai,
Phải mượn quần chồng.
Đă cực trong ḷng,
Lại thêm xấu hổ.
Không đ̣i mô chộ,
Ăn mặc ra ri.
Anh bước chân ra đi,
Không quần mà có áo ...
Bên cạnh đó là những bài vè đả kích ách thống trị của thực dân:
Từ ngày có mặt thằng Tây,
Phu phen tạp dịch ngày rày khốn thay.
Kẻ bắt giữa ruộng cày,
Người không cho sắm sửa.
Chồng yếu, bắt vợ,
                        Cha yếu, con đi,
Ruộng cày bỏ trắng ...
(Vè đi phu Cửa Rào).
Có những bài vè có tính chất khái quát nói về một loại sự việc, một loại người nhất định trong xă hội có thể phổ biến ở nhiều địa phương. Loại vè này nói về nỗi khổ của tầng lớp dân nghèo. Ở những bài vè này tính chất trữ t́nh tăng lên do lối phản ánh thực tại ít nhiều có tính chất khái quát.
... Thân tôi đi sớm về trưa,
Vác cày vác bừa đă mỏi hai vai.
Chú thuê quan một tôi nài quan hai,
Tôi ở với ngài đă chẵn hai năm.
Chú thím ăn rồi bắt tôi đi nằm,
Bắt tôi xay lúa tối tăm trong nhà.
Cái niêu bằng cái trứng gà,
Bỏ vô ba hột thảm là chú ơi ...
(Vè chăn trâu).
                                    ... Chửa sáng dắt trâu đi cày,
Dọn bờ cuốc gốc nửa ngày chưa tha:
Bờ lớn con hăy cuốc ra,
Bờ bé đắp lại cho bà con ơi !.
Việc làm khắp chốn cùng nơi,
Giục đi cắt cỏ vai tôi đă ṃn !
... Về nhà xay đỗ, cạo khoai,
Xay thóc gĩa gạo, canh hai chưa nằm.
Gà kia mày gáy chiêu đăm,
Để chủ tao nằm, tao ngủ chút nao !
(Vè đi ở).
Ngoài ra có thể kể đến nhiều bài vè kể về những cảnh ngộ khác như: Vè chồng chung, Vè vạn cấy, Vè đi phu...
3. Vè lịch sử
Ở vè lịch sử, tính thời sự nổi bật.
Có sự khác biệt giữa sử ca và vè lịch sử. Vè lịch sử thường ḥa quyện 2 yếu tố: sự chân thật lịch sử và sự hư cấu thần kỳ.
Vè lịch sử là lịch sử không thành văn của nhân dân. Vè lịch sử gồm 2 mảng lớn.
Đề tài nông dân khởi nghĩa
Từ thế kỷ XVIII trở đi, nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân không ngừng nổ ra khắp nơi trong nước, lôi cuốn hàng vạn người. H́nh ảnh về những người anh hùng nông dân và những cao trào ấy đă được ghi nhận ở nhiều bài vè. Nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân rất nổi tiếng như Quận He, Hoàng Công Chất ... có thể ức đoán đă từng là đề tài của nhiều bài vè. Nhưng do nhược điểm của công tác sưu tầm văn học dân gian nói chung, nhiều bài vè gắn với các phong trào nông dân khởi nghĩa thế kỷ XVII không lưu giữ được.
Tiêu biểu, Vè chàng Lía được lưu hành rộng răi ở miền Trung và miền Nam Trung Bộ. Lía là một thủ lĩnh nông dân hồi cuối thế kỷ XVIII, đă nổi lên chống lại chúa Nguyễn.
Thiệt là lũ chó nhà đây,
Hơn người nghèo khổ ta nay quá chừng.
Bồi hồi Lía tức tràn hông,
Ngẫm thân đành phải dằn ḷng làm thinh.
Căn giận trước áp bức, bất công, Lía đi cướp phá nhà giàu, giúp hộ dân nghèo:
Lía ta tâm tánh lạ sao,
Ghét phường phú hộ đất đào ném ra.
Những người nghèo khó đâu ta,
Th́ Lía xót phận rất là yêu thương.
Kẻ nghèo rủi gặp tai ương,
Hễ Lía hay biết, dễ thường bỏ đâu.
Giúp cho tiền bạc tiếc nào,
Cho nên nhiều kẻ xiết bao cảm t́nh.
Vè chàng Lía cũng bộc lộ những nhược điểm của nhân vật như tính manh động, hiếu sát, nhưng nét chủ đạo là ngợi khen tính cách anh hùng, hào hiệp của Lía:
... Lừng danh chàng Lía tài cao,
Thâu được thành nọ tiếng hào đồn ran.
Vỗ về chiêu dụ trăm dân,
Trước sau an ổn mười phần làm ăn ...
... Tháng ngày vây chặt tứ vi,
Non cao, thủ hiểm khó ḥng sự chi !
Lương tiền hao tổn trào nghi,
Vua đành truyền lệnh tạm th́ băi binh ...
Về phong trào Tây Sơn, có bài Vè Bà Thiếu Phó kể chuyện bà Bùi Thị Xuân.
Về phong trào nông dân khởi nghĩa thế kỷ XIX, ở miền Bắc phổ biến nhất là  Vè vợ ba Cai Vàng. Cai Vàng tên thật là Nguyễn Văn Thịnh, tổng Hoàng Vân (tổng Vàng, tỉnh Bắc Ninh), là lănh tụ cuộc khởi nghĩa nông dân Bắc Ninh (1862) dưới triều Tự Đức. Bài vè đề cao những chiến công của Cai Vàng, đặc biệt kể về hành trạng của người vợ thứ ba của ông là Lê Thị Miên.
... Truyền quân vây đánh ra tay,
Các quan mới biết giặc nay đàn bà.
... Cô Quận sống thác cũng chơi,
                  Dong gươm, bắt mác xem trời bằng vung.
Bắt được bảy ngọn mác thông,
Phải quan chánh lĩnh người cùng thác đi.
Quan phó phải đạn một khi,
                  Quan phủ bỏ ngựa tức th́ lui ra ...
... Cai vàng trong ấy đánh ra,
Theo hiệu định trước, cô Ba  đánh vào.
Quân trào táo loạn lao đao,
Bốn bề súng nổ, xôn xao khắp đồng.
Đánh nhau chẵn ba ngày ṛng,
Súng nổ đ́ đùng như thể pháo rang.
Đạn bắn như rải cát vàng,
Các quan cuốn gói tếch chuồn Bắc Ninh...
Vè vợ ba Cai Vàng phổ biến rất rộng răi, dẫn tới hiện tượng có nhiều đoạn giống với Vè Đề Thám, phần kể về chiến công vợ ba Đề Thám, một bài vè lịch sử thuật lại phong trào nông dân Yên Thế, Bắc Giang chống Pháp.
Đề tài đấu tranh chống Pháp
      Trong giai đoạn lịch sử bi tráng, sự nghiệp kháng chiếu chống Pháp hào hùng của nhân dân được khắc họa đậm nét bằng những bài vè lịch sử.
Vè thất thủ kinh đô dài 1850 câu, kể những sự việc xảy ra từ thất thủ  Thuận An (1885) đến khi vua Thành Thái bị giặc đày sang đảo Rê-uy-ni-ông (1907). Bài vè phản ánh một giai đoạn lịch sử ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống nhân dân, nói lên tinh thần yêu nước, quyết tâm kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta bấy giờ. Bài vè kể rơ sự biến ở kinh thành, đặc biệt, dựng lại khá trung thực h́nh ảnh một số nhân vật lịch sử, nổi bật là Tôn Thất Thuyết.
                              -... Từ ngày thất thủ kinh đô,
Bốn phương xiêu vẹo hán Hồ khổ thay.
-Nước ta quan tướng anh hùng
            Bách quan văn vơ cũng không ai tày.
Người có ngọc vẹt cầm tay,
Đạn vàng Tây bắn ba ngày không nao.
Tài hay văn vơ lược thao,
                  Khí khái nhân địa ra vào rất thông.
Bốn bề cự chiến giao công,
                  Tây phiên nói: thực anh hùng nước Nam ...
Ngoài ra c̣n nhiều bài vè nổi tiếng như Ba Đ́nh chống Pháp, Vè Quan Đ́nh, Vè Đề Thám, Vè tán Thuật,Vè Trương Định... gắn với tên tuổi những người anh hùng lănh đạo nhân dân đánh giặc cứu nước.
Vè Ba Đ́nh chống Pháp kể về cuộc khởi nghĩa ở Ba Đ́nh, một cứ điểm chống Pháp của nghĩa quân Thanh Hóa trong thời kỳ Cần Vương. Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Hoàng Bật Đạt ... đă lănh đạo nghĩa quân suốt thời gian từ 1885 đến 1888. Nghĩa quân đă đánh Pháp với tinh thần chiếu đấu kiên cường:
                        ... Nước nhà Tây đă chiếm rồi,
Chư quân chư tướng ắt thời theo ta.
Kéo quân về đất Thanh Hoa,
T́m nơi hiểm yếu để ta lập đồn.
... Kéo quân đến đóng Ba Đ́nh,
Đào tường, đắp ụ can thành tứ vi.
Tán Hoàng đóng chốt Mỹ Khê,
Đốc Bành Mậu Thịnh đi về có ta.
Lĩnh Toại đóng chốt thứ ba,
Tại nghè Thượng Thọ để mà pḥng không.
Ra uy thiết bị vừa xong,
Ngày sáu tháng Chạp giao công tức th́ ...
Vè Quan Đ́nh kể về Phan Đ́nh Phùng người lănh đạo cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Hương Khê (Hà Tĩnh) (1877). Bọn thực dân đă dùng nhiều thủ đoạn mua chuộc, đàn áp, nhưng vẫn không khuất phục được ông.
                                    -... Đến năm Ất Dậu vừa hay,
Trấn binh nở súng giặc Tây chiếm thành.
Tan hoang phố xa miếu đ́nh,
Quân gia vất vưởng dân t́nh bơ vơ.
Cháy nhà mặt chuột mới trơ,
Quận Tường sớm đă thừa cơ đầu hàng.
-... Quan Đ́nh tâm viễn chí cường,
Đêm đêm trằn trọc tính đường thế công.
Bảo cùng Cao Thắng đổng nhung,
Quân Tây nó có thần công rất mầu.
Súng ta có đọ được đâu,
Làm sao chế được mới hầu hơn thua.
Khen thay Cao Thắng tài to,
Lấy ngay súng giặc về cho ḷ rèn.
... Súng ta chế được vừa xong,
Đem ra mà bắn nức ḷng lắm thay.
... Hồng Lam mặc sức tung hoành,
Đánh đồn tỉnh Nghệ, phá thành Nam giang.
Bắt sống tuần phủ Đinh Quang,
Giết  Trương Quang Ngọc hết đàng theo Tây.
-... Vụ Quang huyết chiến một khi,
Mấy ngh́n lính Pháp chết th́ chật sông.
-Trong quân chưa kịp hạ công,
Quan Đ́nh phút đă xe rồng lên tiên ...
Ở bài vè Đề Thám, đoạn nói đến vợ ba Đề Thám thật hào hùng:
                        -Đ́ đùng súng bắn ŕ rào,
Bà Ba lúc ấy thị hào ra tay.
Bắn chết ngay bốn thằng Tây,
Mấy thằng đội trốn thoát rày chạy ra.
Vè Tán Thuật kể về cuộc khởi nghĩa Băi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật ở Hải Hưng (1885). Đây là cuộc khởi nghĩa lớn nhất ở đồng bằng Bác Bộ bấy giờ. Với chiến thuật du kích, nghĩa quân Tán Thuật đă làm giặc Pháp nhiều phen khốn đốn, khiếp sợ:
                                    Pháp kia đă chiếm Nam Kỳ,
        Hỏi rằng Trung Bắc dễ ǵ được yên.
  Quân Tán Thuật tài kiêm văn vơ,
  Vốn xưa kia cùng Đốc bộ Hoàng.
Kinh thiên nhất trụ chi gian,
         Sơn Tây một dải ngang tàng lưỡi gươm.
  Đau nỗi nước gặp cơn binh hỏa,
  Giận triều đ́nh, thương cả lê dân.
Đường đường trút bỏ đai cân,
                Hội binh phát thệ trừ quân bạo cường.
                    Đất Băi Sậy lừng danh quan Tán,
              Huyện Văn Giang tỏ rạng hào quang.
Một vùng sậy mọc lau lan,
          Nơi bùn sâu có rồng vàng ở trong.
   Đường trăm nẻo giao thông thủy bộ,
                     Hưng Yên nay cũng thuở Lương Sơn,
Anh hùng mài một lưỡi gươm,
           Những loài giá áo túi cơm sá ǵ.
    Khắp mười tỉnh Bắc kỳ sĩ thứ,
                      Bất đế Tần mấy chữ không nao,
                              Một ḷng theo ngọn cờ đào,
Thề cùng bạch quỷ có tao không mày !
Vè Trương Định kể về người anh hùng chống Pháp đất G̣ Công, Nam Bộ nổi danh với đám lá tối trời:
... Trương Công hùng lược thao tài,
Quyết đem binh mă thử vài trận chơi.
                              Nghĩa thanh sấm động nhất trời,
Biết bao hào kiệt đồng lời thệ minh ...
Bên cạnh đó, Vè Khâm sai xuất hiện ở Quảng Nam khoảng năm 1886, kể việc triều đ́nh Đồng Khánh phái khâm sai Nguyễn Thân hợp với quân Pháp đánh dẹp phong trào yêu nước kháng Pháp do Nguyễn Hiệu lănh đạo. Bài vè vạch trần bộ mặt thật của đạo binh khâm sai.
-... Danh vi trấp bảo
                              Vụ dĩ an dân (!)
Khâm sai đại thần,
Kéo về Đà Nẵng.
-... Tướng chi tướng dở,
Vị luyện quân t́nh,
Chẳng có Tây binh,
E không khỏi chết.
... Làm chẳng ra chi,
Lại thêm ăn bậy,
Lũ quân đi lấy,
Các tướng về chia.
...  cái chi cũng xách,
Cái quần đă rách,
Cái aó đă xơ,
Cũng giành mà quơ,
Huống chi cái khá !
Thậm vi khả bỉ,
Quân lệnh khâm sai !
Nhiều bài vè không ngần ngại gọi thẳng đích danh bọn măi quốc cầu vinh.
Nh́n chung, vè chống Pháp là bộ phận tiêu biểu của vè lịch sử ḥa vào ḍng văn học yêu nước chống Pháp của dân tộc.
III.  ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA VÈ
            Vè có giá trị nghệ thuật khá độc đáo. Phương pháp biểu hiện của vè gắn với mục đích và đặc điểm thể loại. Vè xuất hiện nhằm đáp ứng sự phản ánh tức thời một sự việc, sự kiện. Giá trị trường tồn của vè có ư nghĩa khác với các thể loại khác. Bên cạnh đó, các sáng tác văn học dân gian nói chung sẽ trở thành hoàn thiện hơn qua quá tŕnh sử dụng, lưu truyền. Phần lớn các bài vè lại có vận mệnh ngắn ngủi, thời gian cần thiết để đạt tới một h́nh thức hoàn chỉnh, trau chuốt ít có được.
2.      Tính đích danh xác thực
Thể hiện ở tên bài vè, nội dung được phản ánh trong vè.
... Có một thầy cai ở làng Tuyên Thạnh,
Cửa nhà huê cảnh ở tại Bắc Chiên,
Có hai vợ hiền mà hư con mắt.
... Thầy xét thầy tra, một ngày trăm ba, cùng là trăm rưỡi.
Thầy mắng thầy chưởi, thầy chẳng có thương,
Xuồng cá xuồng lươn, tàu cau, dừa, bưởi,
Xuồng lớn cắc rưỡi, xuồng nhỏ cắc hai,
Trong mấy tháng nay, thầy Cai tiền bộn ...
(Vè thầy cai).
3.      Thể thơ
Thể văn 3, 4, 5 tiếng một câu nhanh gọn, sắc bén thích hợp yêu cầu tự sự. Thể lục bát dàn trải thích hợp yêu cầu trữ t́nh. Có bài vè kết hợp cả hai thể thơ.
-. .. Thiên hạ ăn tết,
Cũng đă qua rồi,
Bước qua năm Mùi,
Tây kia lấn nước ...
(Vè Tây cướp nước).
- Nghe vẻ nghe ve,
Nghe vè giữ trâu,
Ra đứng đầu cầu khóc mẹ van cha ...
(Vè giữ trâu).
4.      Yếu tố tự sự và yếu tố trữ t́nh
Vè chủ yếu tự sự. Có khi kết hợp yếu tố trữ t́nh theo yêu cầu biểu hiện nội dung bài vè.
... Đồng Nai bốn phía mây đen,
Biên Ḥa, Gia Định nỗi niềm xiết bao.
Ḱa ḱa những đấng anh hào,
G̣ Công, Cần Giuộc trăng sao tỏ ngời.
Ḷng son rạng vẻ đất trời,
Thệ cùng nghịch lỗ ở đời chẳng chung.
(Vè trước họa giặc Pháp).
5.      Ngôn ngữ
Ngôn ngữ vè mộc mạc, đơn giản, không trau chuốt, gọt dũa.
Một số công thức mở đầu:
- Nghe vẻ nghe ve,
Nghe vè ...
- Hai bên cô bác,
Lẳng lặng mà nghe ...
- Ngồi buồn lấy viết đặt chơi ...
TỤC NGỮ
 
I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỤC NGỮ
1. Khái niệm
            Khối lượng tục ngữ Việt Nam do nhân dân lao động sáng tạo và lưu truyền, tích lũy từ lâu đời rất phong phú. Tục ngữ cung cấp cho lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân, cho ngôn ngữ văn chương một h́nh thức biểu hiện súc tích, có tính khái quát cao.
Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức của nhân dân dưới h́nh thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền.
2.      Phân biệt tục ngữ với những h́nh thức gần với tục ngữ
Với phương ngôn, ngạn ngữ
            Phương ngôn là tục ngữ địa phương, phạm vi nhỏ hơn tục ngữ.
            Ngạn ngữ là lời nói lưu hành từ xưa, chủ yếu là những lời hay, ư đẹp được truyền tụng.
Với thành ngữ
            Tục ngữ và thành ngữ có quan hệ nhau rất chặt chẽ, v́ vậy trong hoạt động nghiên cứu, sưu tập trước ñđây  có xu hướng gộp chung, không có sự phân biệt  giữa chúng.
Nguyễn Văn Tố trong Tục ngữ ta đối với tục ngữ Tàu và tục ngữ Tây: TuÛc ngữ là câu nói quen trong thế tục, nhiều câu nghĩa lư thâm thúy, ư tứ sâu xa.
Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu:Một câu tục ngữ tự nó phải có ư nghĩa, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều ǵ , c̣n thành ngữ chỉ là lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ư, một trạng thái ǵ cho có màu mè
Vũ Ngọc Phan trong Tục ngữ ca dao dân ca: Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ư, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lư, một công lư, có khi là một sự phê phán. Thành ngữ là một bộ phận câu có sẵn mà nhiều người quen dùng nhưng tự riêng nó không diễn được một ư trọn vẹn.
Thành ngữ là hoa  tục ngữ là quả.
-     Nước chảy đá ṃn.
-          Sông cạn, đá ṃn.
-          Tay làm hàm nhai.
-          Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ.
Với ca dao
Nh́n chung, sự khác biệt giữa hai thể loại:
Ca dao thiên về t́nh cảm, phô diễn tâm t́nh một cách chủ quan.
Tục ngữ thiên về lư trí, đúc kết kinh nghiệm một cách khách quan.
Có những trường hợp khó phân biệt ranh giới.
- Ai ơi chẳng chóng th́ chầy,
Có công mài sắt có ngày nên kim.
- Lời nói chẳng mất tiền mua,
Lựa lời mà nói cho vừa ḷng nhau.
3. Nguồn gốc và sự phát triển của tục ngữ
Gorki trong Bàn về nghệ thuật: Nghệ thuật ngôn ngữ sinh ra do quá tŕnh lao động của con người từ xưa, là xu hướng con người muốn đúc kết kinh nghiệm lao động vào một h́nh thức ngôn ngữ dễ nhớ và bám chặt vào kư ức - những h́nh thức thơ hai chữ, tục ngữ, truyền ngôn là những khẩu hiệu lao động thời cổ .
Tục ngữ được ức đoán đă có từ thời cổ, nhằm đúc kết những kinh nghiệm, những điều quan sát đưọc trong quá tŕnh lao động, những chân lư thông thường ... Trong xă hội có giai cấp, tục ngữ được nhân dân dùng như một công cụ để phát biểu những nhận thức về các kinh nghiệm thực tiễn, các hiện tượng lịch sữ xă hội. Nhân dân lao động dùng tục ngữ thể hiện thế giới quan và nhân sinh quan của ḿnh. Những kinh nghiệm của tục ngữ rút ra trong quá tŕnh đấu tranh thiên nhiên và xă hội, được thể nghiệm trong thực tiễn, đă trở thành những chân lư có tính cách phổ biến, được nhân dân công nhận và sử dụng.
Tục ngữ h́nh thành từ nhiều nguồn:
- Từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác.
- Được tách ra từ tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại.
- Được rút ra tác phẩm văn học bằng con đường dân gian hóa những lời hay ư đẹp.
- Từ sự vay mượn nước ngoài.
4. T́nh h́nh nghiên cứu tục ngữ
            Đầu tiên đó là các bản ghi chép bằng chữ Nôm vào thế kỷ XIX như Nam phong ngữ ngạn thi của Đ́nh Thái, Đại Nam Quốc Túy của Ngô Giáp Đậu ..., bản ghi chữ quốc ngữ như Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn của Huỳnh Tịnh Của (1897), Tục ngữ cách ngôn của Hàn Thái Dương (1920) ...
Nhũng năm đầu thế kỷ XX, bên cạnh những bản ghi bằng chữ quốc ngữ, c̣n có một số bản sưu tập, chú thích nghĩa và dịch tục ngữ Việt Nam sang tiếng Pháp như Tục ngữ An Nam dịch sang tiếng Tây của V. Barbier (Triệu Hoàng Ḥa), Đông Tây ngạn ngữ cách ngôn của H. Délétie và Nguyễn Xán (193 ...
            Từ trước cách mạng tháng Tám đến nay đă có những công tŕnh sưu tập và nghiên cứu tục ngữ công phu, có nội dung phong phú:
Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc (1942), Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa của Minh Hiệu sưu tầm (1970), Ca dao, ngạn ngữ Hà Nội Triều Dương ... sưu tầm biên soạn (197, Tục ngữ Thái (1978) ...
Tục ngữ ca dao dân ca của Vũ Ngọc Phan (1956), Tục ngữ Việt Nam của Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Chi (1975) ...
II. NỘI DUNG TỤC NGỮ
            Tục ngữ phản ánh những nhận định, quan niệm của nhân dân về lao động, về các hiện tượng lịch sử xă hội, về tư tưởng, đạo đức ...
1.Phản ánh những kinh nghiệm về lao động sản xuất
            Tục ngữ về lao động sản xuất phản ánh một số nét chính điều kiện và phương thức lao động của nhân dân, phản ánh đặc điểm đời sống dân tộc. Những kinh nghiệm về lao động sản xuất nảy sinh trong quá tŕnh đấu tranh thiên nhiên của nhân dân lao động được đúc kết trong tục ngữ được phổ biến rộng răi, trở thành tri thức khoa học kỹ thuật dân gian.
Trong quá tŕnh lao động sản xuất và sinh hoạt, nhân dân tích lũy được nhiều kinh nghiệm về quy luật diễn biến của thời tiết khí hậu.
-Bơ băi không bằng phải th́.
-Vấy mại th́ mưa, bối bừa th́ nắng.
-Mây thành vừa hanh vừa giá.
Trong quá tŕnh lao động sản xuất ở các ngành nghề nông nghiệp, ngư nghiệp, một số nghề thủ công lâu đời, nhân dân cũng đă đúc kết được rất nhiều kinh nghiệm. Trong đó, những kinh nghiệm về làm ruộng chiếm đa số.
-Nhất nước, nh́ phân, tam cần, tứ giống.
Chim cập cợi, mùa đợi nhau.
-Cơm quanh rá, mạ quanh bờ.
-Sương quánh cá thu, sương lu cá thửng.
-Lâu đêm hơn thêm hồ.
-Nhất dáng, nh́ men, ba chàm, bốn vẽ.
            Tục ngữ về lao động sản xuất thể hiện tinh thần sáng tạo của nhân dân trong lao động. Song chủ yếu là kinh nghiệm thực tiễn. Nhiều kinh nghiệm chỉ phản ánh những biểu hiện cụ thể của những quy luật tự nhiên ở địa phương, từng thời điểm nhất định.
2.      Ghi nhận các hiện tượng lịch sử xă hội
Tục ngữ nói về các hiện tượng lịch sử xă hội là bộ phận chủ yếu, phản ánh những tập quán, thị hiếu, cuộc đấu tranh của nhân dân ...
Một vài kư ức của thời kỳ lịch sử xa xưa của dân tộc:
-Ăn lông ở lỗ.
-Con dại cái mang.
-Năm cha ba mẹ.
            Một số hiện tượng lịch sử:
-Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi.