Home T́m Ca Dao Diễn Đàn T́m Dân Ca Phổ Nhạc T́m Câu Đố T́m Chợ Quê Góp Ư Tân Nhạc Nhạc Dân Ca

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Diêu Dụng
 
Dẫn Giải
Cảm Nghĩ
Chợ Quê
Chữ Nôm
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
English
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Liên Mạng Thành Viên
HPH
Hồng Vũ Lan Nhi 1 & 2
 

Download Unicode Windows 98

T́m Bài Trong Toàn Trang Ca Dao Tục Ngữ bằng

Văn chương truyền khẩu
Phương Lan (Trích trong: Đại cương về ḍng Văn học Dân gian, lớp Đại cương về Văn học Việt nam)

Người là sinh vật biết nhận thức, có ư nghĩ, t́nh cảm, và khả
năng diễn đạt những ư nghĩ, t́nh cảm ậy Trong lịch sử văn học
của các dân tộc, trước khi tiến tới giai đoạn có chữ viết
với những sáng tác được ghi chép thành văn, trong dân gian đă
có: những câu nói ngắn, gọn có ư nghĩa; những câu hát theo giọng
điệu tự nhiên để biểu lộ, gửi gấm t́nh cảm; những mẩu
chuyện để cắt nghĩa các hiện tượng thiên nhiên hay các tập
tục, tín ngượng Văn học dân gian truyền khẩu (với những tục
ngữ, ca dao, truyện cổ tịch ) xuất hiện trong rất nhiều xă
hội trước khi con người t́m ra chữ việt

Trong văn học sử Trung hoa, khởi đầu cho thơ ca chính là những
câu hát dân gian mà về sau Khổng tử đă sưu tập lại trong Kinh
Thị Tục ngữ, ca dao và truyện cổ tích (proverbs, folk songs, folk
poetry, folk tales, hay nói chung, folk literature) là tài liệu văn học
quan trọng của nhiều dân tộc trên thế giồui, không riêng ǵ dân
tộc Việt Nạm

Đối với dân tộc ta, ḍng văn học dân gian có một địa vị đáng
kể hơn thế nựa Suốt trên 1000 năm Bắc thuộc, văn tự chính
thức được công nhận là chữ Hán, thứ chữ không diễn đạt
được tiếng nói của dân Việt Sau khi lấy lại được chủ
quyền, tuy tiền nhân ta có thêm chữ nôm, nhưng chữ này khó học,
khó nhớ v́ lại do chữ Hán ghép thành (muốn biết chữ nôm phải
thông thạo chữ Hán trước). V́ thế trong xă hội ta xưa, số
người biết đọc, biết viết để có thể diễn đạt ư tưởng,
t́nh cảm bằng chữ (bất kể chữ nôm hay chữ Hán) rất ịt Đại
đa số dân chúng đă sáng tác và lưu giữ các tác phẩm dưới
dạng truyền khậu Chính v́ thế, ḍng văn học dân gian truyền
khẩu rất phong phú và quan trọng trong kho tàng văn học Việt Nạm

Văn học truyền khẩu không hoàn toàn là sáng tác của người b́nh
dân ít học Trước khi thành đạt, đa số nho sĩ sinh sống, học
hành ở thôn quệ

Nhiều ẩn sĩ, hàn nho ở với nông thôn suốt đợi Trong những
dịp hội hè, trong các cuộc gặp gỡ, hát xướng, nhiều câu nói,
câu hát của các vị đă được người b́nh dân ít học ghi nhớ
rồi từ đó, gia nhập ḍng văn học dân giạn Theo nhiều tài liệu,
Trạng nguyên Lương Thế Vinh (ông Trạng Lường), thi hào Nguyễn Du
(cậu Chiêu Bảy), nhà cách mạng Phan Bội Châu (ông Giải San), nhà
thơ Nguyễn Bịnh đều đă từng tham dự các sinh hoạt ca hát ở
thôn quê và có tác phẩm để lại, làm giàu thêm cho kho tàng văn
học dân giạn Ta có thể tin nhiều nho sĩ, trí thức khác cũng đă
có những hành động tương tự

TỤC NGỮ

Định nghĩa và biệt loại:

Tục ngữ (tục: thói quen có đă lâu đời; ngữ: lời nói) là
những câu nói ngắn, gọn, giàu ư nghĩa, được dùng trong lời nói
hàng ngày và lưu

truyền từ đời nọ qua đời kịa Tục ngữ c̣n được gọi là ngạn
ngữ (lời người xưa truyền lại).
Có ư nghĩa hẹp hơn tục ngữ là:

Phương ngôn:

Những câu tục ngữ được dùng trong một vùng, một địa phương
chứ không phổ biến khắp nược

Cách ngôn, Châm ngôn:
Những câu tục ngữ có ư khuyên dạy luân lư ("cách" là phương
thức, "châm" là lời răn bảo).

Thành ngữ:

Một loại tục ngữ đặc biệt, tự nó chưa có ư nghĩa đầy đụ
Thành ngữ chỉ là những cách nói đă định sẵn (set expressions)
để mô tả sự vật chứ không biểu thị một ư phán đoán hay
khuyên răn nạo Chẳng hạn:

Đàn gảy tai trâu
Đáy bể ṃ kim
Nói hươu nói vượn
Gần đất xa trời
Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa
Ngậm bồ ḥn làm ngọt
Cảnh trứng chọi với đá
Chốn miệng hùm nọc rắn
Xứ tiền rừng bạc biện
Trong các thành ngữ, có những câu diễn ư so sánh hai sự vật
để làm nổi bật việc mô tả, được gọi là những Câu vị
Chẳng hạn:
Lạnh như tiền

Thẳng như ruột ngựa
Chắc như đinh đóng cột
Dốt đặc cán mai
Lúng túng như thợ vụng mất kịm

Nguồn gốc của tục ngữ:

Phần lớn các tục ngữ nảy sinh trong đời sống hàng ngạy Ban
đầu, có khi chỉ là một câu nói thường nhưng nhờ có ư nghĩa
xác

đáng, lời lẽ cô đọng, dễ nhớ, được người khác thích thú,
nhắc đi nhắc lại Dần dần, câu nói được trau chuốt và phổ
biến rộng hợn

Có những câu vốn là thơ ca có tác giả nhưng nhờ ư đúng, lời
hay, được nhiều người lưu tâm một cách đặc biệt rồi tách
riêng để
truyền tụng Những câu như Thương người như thể thương thân
trong Gia huấn ca (tương truyền của Nguyễn Trăi), Khi nên trời
cũng chiều người, hay Chữ "tài" liền với chữ "tai" một vần
trong Truyện Kiều của Nguyễn Dụ có thể xếp vào loại nạy

Có những câu tục ngữ được dịch từ ngạn ngữ nước ngoài như:
Ở hiền gặp lành (Tích thiện phùng thiện Trung hoa

Có công mài sắt, có ngày nên kim (Ma chử thành châm Trung hoa)

Lửa cháy đổ dầu thêm (Hoả thượng thiêm du Trung hoa)

Thời giờ là tiền bạc (Time is money Anh)

Muốn là được (Vouloir, cést pouvoir Pháp)

H́nh thức của tục ngữ:

Trong tục ngữ có những câu:

Không vần, chỉ có ư đối:

Giơ cao, đánh sẽ

Ở bầu th́ tṛn, ở ống th́ dài

No nên bụt, đói ra ma

Không vần, không đối, chỉ cốt ư đúng, lời gọn:

Mật ngọt chết ruồi

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

Nhưng phần lớn tục ngữ là những câu có vần, thường là vần
lưng (yêu vận):

Ăn cây nào rào cây ấy
Phép vua thua lệ làng
Con có cha như nhà có nóc
Một giọt máu đào hơn ao nước lă
Cơn đằng đông vừa trông vừa chạy

Đôi khi có những câu thêm cả vần chân (cước vận):

Khôn cho người rái,
Dại cho người thương,
Dở dở ương ương,
Tổ cho người ghẹt

CA DAO

Định nghĩa và biệt loại:

Ca dao (ca: bài hát thành chương khúc; dao: bài hát ngắn, không
thành chương khúc) là những câu hát theo giọng điệu tự nhiên
lưu hành trong dân gian, thường diễn tả ư nghĩ, t́nh cảm, nếp
sinh hoạt của đại chúng b́nh dận Ca dao c̣n được gọi là phong dao
("phong" là phong tục). Người xưa cho rằng qua ca dao có thể nhận
biết phong tục tốt, xấu của một xứ, một vụng

Một biệt loại khá quan trọng của ca dao là đồng dao ("đồng": trẻ
con). Đồng dao là những bài hát dành cho trẻ con, toàn bài nhiều
khi chỉ là một số câu có vần ghép lại với nhau, không có ư
nghĩa rơ rệt Tuy nhiên, đồng dao có thể giúp trẻ học một số
danh từ về các vật thường gặp Chẳng hạn:

Dung dăng dung dẻ

Dắt trẻ đi chơi
Đến cửa nhà trời
Lạy cậu lạy mợ
Cho cháu về quê
Cho dê đi học
Cho cóc ở nhà
Cho gà bới bệp

hay:

Cái bống đi chợ cầu Canh
Cái tôm đi trước, củ hành đi sau
Con cua lật đật theo hầu
Cái chày rơi xuống vỡ đầu con cụa

Một số biệt loại nữa của ca dao là các bài hát ru em, các bài
vè, và các câu độ

Vè là một loại ca dao có tính cách thời sự và địa phương, làm
ra nhân một việc xảy ra tại địa phương khiến dư luận xôn xạo
Vè thường
nhằm mục đích chỉ trích, chế giệu

Không có ranh giới rơ rệt giữa ca dao và dân cạ Có thể coi ca dao
là phần lời thơ của các bài dân cạ

Ca dao khác tục ngữ ở chỗ theo định nghĩa ca dao có thể hát
lên được (tục ngữ: câu nói; ca dao: câu hát). Trong ca dao, vần
điệu rơ rệt và âm hưởng êm ái hợn Nói chung, câu ca dao dài
hơn câu tục ngữ, và thường có nhiều câu hợp lại thành bại
Xét theo nội dung, tục ngữ thường là những nhận xét thuộc phạm
vi lư trí trong khi ca dao là tiếng nói của t́nh cạm Tuy nhiên, sự
phân biệt này cũng không được chặt chẽ cho lắm: nhiều câu ca
dao cũng thuộc phạm vi lư trị

Cách kết cấu của ca dao:

Các học giả lớp trước thường theo Kinh Thi của Trung hoa mà phân
biệt ba lối kết cấu (lập ư, dàn ư) của ca dao là: phú, tỉ, và
hựng

Phú: là phô bày, mô tả, nói thẳng vào sự việc Chẳng hạn:

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ
Ai vô xứ Nghệ th́ vô!

hay:

Ngang lưng th́ thắt bao vàng
Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài
Một tay th́ cắp hoả mai
Một tay cắp dáo quan sai xuống thuyền
Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mựa

Tỉ: là ví, so sánh, mượn một sự vật khác để ngụ điều ḿnh
muốn nọi Chẳng hạn:

Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn

hay:

Nực cười châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu nát, ai dè xe nghiệng
Hứng: là nổi lên, trổi dậy, nhân một sự vật bên ngoài mà ư
tưởng, t́nh cảm chính bộc lộ rạ Chẳng hạn:

Quả cau nho nhỏ
Cái vỏ vân vân
Nay anh học gần
Mai anh học xa
Tiền gạo là của mẹ cha
Cái nghiên, cái bút thực là của em

hay:

Trên trời có đám mây xanh

Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng
Ước ǵ anh lấy được nàng
Th́ anh mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chận

Cũng có bài ca dao kết cấu theo nhiều lối khác nhau như:

* Vừa phú vừa tỉ:

Trong đầm ǵ đẹp bằng sen

Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

Ba câu trên tả hoa sen (phú), câu cuối ví hoa sen với người quân
tử (tỉ).

* Vừa phú vừa hứng:

Rủ nhau xuống bể ṃ cua
Đem về nấu quả mơ chua trên rừng
Ai ơi chua ngọt đă từng
Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau!

Ba câu trên nói những nỗi gian nan, từng trải qua cảnh sướng khổ
cùng nhau của hai vợ chồng (phú), nhân đó đưa tới ư chính trong
câu cuối cùng (hứng).

* Vừa tỉ vừa hứng:

Dao vàng bỏ đăy kim nhung
Biết người quân tử có dùng ta chẳng
Ư chung cả hai câu là nhân chuyện dao vàng mà nghĩ đến ḿnh
(hứng).

Riêng câu trên ví ḿnh với con dao vàng (tỉ).

* Kiêm cả ba lối:

Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em đă có chồng, anh tiếc lắm thay!
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày c̣n khổng
Bây giờ em đă có chồng
Như chim vào lồng, như cá cắn cậu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ!
Chim vào lồng biết thuở nào ra!

Ba câu đầu là "phú", chuyển sang câu thứ 4 thành "hứng", ba câu
cuối là "tỉ" hay:

Sơn b́nh, Kẻ Gốm không xa

Cách một cái quán với ba quăng đồng
Bên dưới có sông,
Bên trên có chợ
Ta lấy ḿnh làm vợ nên chẳng
Tre già để gốc cho mặng

Bốn câu đầu là "phú", chuyển sang câu thứ 5 thành "hứng", riêng
câu cuối là "tỉ".

H́nh thức của ca dao:

Số câu trong bài:

Số câu trong một bài ca dao không nhất định Ca dao có ít nhất
hai câu, thông thường từ 4, 5 đến 9, 10 cậu Tuy nhiên, trong


những lối hát đối đáp (giao ca), một bài có thể kéo dài vô
hạn định tuỳ khả năng nối tiếp và bắt vần của những người
tham dự cuộc hạt

Số chữ trong câu:

Số chữ trong câu ca dao cũng không nhất định Đại để ca dao
thường làm theo các thể sau đây:

* Nói lối (mỗi câu 4 chữ):

Lạy trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày
Lấy đầy bát cơm
Lấy rơm đun bếp

* Lục bát chính thức:

Trúc xinh trúc mọc bờ ao
Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh
Trúc xinh trúc mọc đầu đ́nh
Em xinh em đứng một ḿnh cũng xịnh

* Lục bát biến thể:

Công anh đắp nấm trồng chanh
Chẳng được ăn quả, vin cành cho cam
Xin đừng ra dạ bắc nam
"Nhất nhật bất kiến như tam thu hề"
Huống "tam thu nhi bất kiến hề"
Đường kia nỗi nọ như chia mối sầu
Chắc về đâu đă hẳn hơn đâu
Cầu tre vững nhịp hơn cầu thượng gia

(Các câu 5 và 7 có 7 chữ trong khi đáng lẽ chỉ có 6)

* Song thất lục bát chính thức:

Bác mẹ già phơ phơ đầu bạc
Con chàng c̣n trứng nước thơ ngây
Có hay chàng ở đâu đây
Thiếp xin mượn cánh chắp bay theo chạng

* Song thất lục bát biến thể:

Trèo lên cây bưởi hái hoa

Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em đă có chồng, anh tiếc lắm thay!

(Câu 4 có 8 chữ trong khi đáng lẽ chỉ có 7)

* Phối hợp nhiều thể khác nhau:

Các bài "Quả cau nho nhọ" và "Sơn b́nh, Kẻ Gốm không xạ" nhắc
đến ở trện Ta cũng có thể kể thêm bài sau đây:

Từ khi gặp mặt giữa đàng
Thiếp quyết thương chàng cha mẹ nào hay
Có hay th́ nhất đánh nh́ đày

Hai lẽ mà thôi

Thuỷ chung em giữ trọn mấy lời
Chết em chịu chết, ĺa đôi em không lịa

(phần 2, trích trong Tiết 1 Đại-cương về ḍng Văn-học Dân-gian,
lớp Đại-cương về Văn-học Việt-nam)

Nói chung, ca dao và tục ngữ có giá trị văn chương khá cạo

H́nh ảnh:

Nhiều h́nh ảnh đẹp:

Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đỉ

Chờ em biết đến bao giờ
Vạc kêu khe núi, trăng mờ sườn non

V́ mây cho núi lên trời
V́ cơn gió thoảng hoa cười với trăng

Khéo dùng những h́nh ảnh thân mật, gần với cuộc sống (tác
dụng truyền cảm mạnh):

Qua đ́nh ngả nón trông đ́nh

Đ́nh bao nhiêu ngói thương ḿnh bấy nhiêu

Trăm năm đành lỗi hẹn ḥ
Cây đa bến cũ, con đ̣ khác đưa

Tóc mai sợi vắn sợi dài
Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm

H́nh ảnh để so sánh thật sống động:

Mặt rỗ như tổ ong bầu
Cái răng khấp khểnh như cầu rửa chân

Đêm qua mới thật là đêm
Ruột xót như muối, dạ mềm như dưa

Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ải

Ngữ vựng thật phong phú:

Có khi thanh nhă, bóng bảy:

Ai đi đâu đấy hỡi ải
Hay là trúc đă nhớ mai đi t́m
T́m em như thể t́m chim
Chim ăn biển bắc đi t́m biển đông

Có khi cụ thể, sống động:

Anh đi đường ấy xa xa
Để em ôm bóng trăng tà năm canh

Có khi linh hoạt, sắc bén:

Đối địch th́ dịch lại đây
Bên thừng bên chăo xem dây nào bền

Em ơi chị bảo em này
Nhất mặn là muối, nhất cay là gừng
Nhất cao là núi Tam từng
Chị c̣n đạp đổ nữa vừng cỏ may!

Em ơi chị bảo em này
Trứng chọi với đá có ngày trứng tan!

Nhiều khi dùng ngôn ngữ mộc mạc của người b́nh dân (giản dị,
tự nhiên):

Chim lạc bày xa cây nhớ cội
Người xa người tội lắm người ơi!
Chẳng thà chẳng biết th́ thôi
Biết nhau mỗi đứa một nơi cũng phiện

Cách phô diễn ư tưởng:

Tự nhiên, lưu loát:

Buồn trông chênh chếch sao mai

Sao ơi sao hỡi, nhớ ai sao mở

Trời ơi có thấu chăng trởi
Lụa đào mà vá áo tơi cho đành!

Dí dỏm:

Đường xa th́ thật là xa


Mượn ḿnh làm mối cho ta một người
Một người mười tám đôi mươi
Một người vừa đẹp vừa tươi như ḿnh

Nghịch ngợm, bỡn cợt, khéo tạo ngạc nhiên:

Tôi mà có nói dối ai
Th́ trời đánh ngă cây khoai giữa đồng
Tôi mà có nói dối chồng
Th́ trời đánh ngă cây hồng bờ ao

Khéo dùng mỹ từ pháp:

Phép trùng điệp (ddiệp ngữ):

Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ải

Ngày ngày em đứng em trông
Trông non non ngất, trông sông sông dài
Trông mây mây kéo ngang trời
Trông trăng trăng khuyết, trông người người xa

Khăn thương nhớ ải
Khăn rơi xuống đất
Khăn thương nhớ ải
Khăn vắt lên vai
Khăn thương nhớ ải
Khăn chùi nước mắt
Đèn thương nhớ ải
Mà đèn không tắt
Mắt thương nhớ ải
Mắt ngủ không yện

Phép lộng ngữ (chơi chữ, bỡn chữ):

.Lợi th́ có lợi nhưng răng chẳng c̣n

Ba năm ăn ở trên thuyền

V́ anh hàng muối cho nên mặn mà
Xuống thuyền nhịp bảy nhịp ba
Trách anh hàng trứng ở ra đôi ḷng

Sông Bờ, sông Mă, sông Thao
Ba ngọn sông ấy đổ vào sông Thương

(ddây không phải sông Thương trong địa dư v́ trên thực tế, ba con
sông nhắc đến trong câu trên không chảy vào sông Thương địa dư)
Phép cân đối:

Đói cho sạch, rách cho thơm

Miếng khi đói, gói khi no
Gần mực th́ đen, gần đèn th́ sáng
Ḥn đất ném đi, ḥn ch́ ném lại
Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần
Dầu hao thiếp rót, đèn mờ thiếp khêu
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam
Thành xây xương lính, hào đào máu dân
Gái có chồng như gông đeo cổ
Trai có vợ như rợ buộc chân

Nhân cách hoá (lời lẽ bóng bảy, kín đáo, súc tích):

Ai đi đâu đấy hỡi ai

Hay là trúc đă nhớ mai đi tỉm

Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đă có ai vào hay chửa

Thuyền ơi có nhớ bến chẳng
Bến th́ một dạ khăng khăng đợi thuyền

Tằm ơi say đắm nơi đẩu
Mà tằm bỏ nghĩa cành dâu chẳng nhịn

Khéo mượn h́nh ảnh để so sánh:

Chim ham trái chín ăn xa

Buồn t́nh lại nhớ gốc đa muốn về

Có quán t́nh phụ cây đa
Ba năm quán đổ, cây đa vẫn c̣n

Có bát sứ t́nh phụ bát đàn
Nâng niu bát sứ, vỡ tan có ngày!

Tiếc thay cái tấm lụa đào
Áo rách chẳng vá, vá vào áo tợi
Trời ơi có thấu chăng trởi
Lụa đào mà vá áo tơi cho đành!

Tiếc thay cây quế châu Thường
Để cho thằng mán, thằng mường nó leo

Khéo dùng sự tích, điển cố:

... Đêm đêm tưởng dải Ngân hà

Chuôi sao tinh đẩu đă ba năm tṛn
Đá ṃn nhưng dạ chẳng ṃn
Tào khê nước chảy vẫn c̣n trơ trợ

Ngoa ngữ và thậm xưng (ddể nhấn mạnh hay lố bịch hoá, điểm
đặc sắc của văn học dân gian):

Bao giờ trạch đẻ ngọn đa

Sáo đẻ dưới nước th́ ta lấy ḿnh
Bao giờ rau cải làm đ́nh
Gỗ lim thái ghém th́ ḿnh lấy tạ

Cưới em trăm tấm gấm đào
Một trăm ḥn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời
... Cưới em tám vạn trâu ḅ
Bảy vạn dê lợn, chín ṿ rượu tăm
Lá đa mặt nguyệt hôm rằm
Răng nanh thằng Cuội, râu cằm thiên lôi
Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi
Xin chàng chín chục con dơi goá chồng

... Xay thóc cả ngày được một đấu ba
Đêm nằm nghĩ ngợi gần xa
Giở ḿnh một cái găy ba thang giường

Một ít câu ca dao thật đẹp:

Trong loại ca dao về t́nh nghĩa, nhiều câu thật cảm động:

Đi đâu cho thiếp đi cùng

Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cạm

Tay bưng đĩa muối, chén gừng
Gừng cay, muối mặn, xin đừng phụ nhau

Tay cầm đĩa muối, chén rau
Thuỷ chung như nhất, sang giàu mặc ai

Bao giờ cạn lạch Đồng nai
Nát chùa Thiên mụ mới phai lời nguyện

Yêu nhau giàu khó chớ lo
Một mai thiên địa lại cho xoay vần

Yêu nhau xa cũng như gần
Tham bên phú quư, phụ bần khó coi

Yêu nhau duyên phận th́ thôi
Của th́ như nước hồ vơi lại đậy

Nhiều câu ca dao đẹp một cách trong sáng, tràn đầy thi vị:

Đố ai biết lúa mấy cây

Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng
Đố ai quét sạch lá rừng
Để ta khuyên gió, gió đừng rung cậy

Sáng trăng giải chiếu hai hàng
Bên anh đọc sách, bên nàng quay tợ
Xin chàng đọc sách, ngâm thơ
Dầu hao thiếp rót, đèn mờ thiếp khệu

Nhiều câu thật truyền cảm, ư tưởng súc tích:

Đêm qua ra đứng bờ ao

Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ
Buồn trông con nhện chăng tơ
Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ải
Buồn trông chênh chếch sao mai
Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mở

Đêm đêm tưởng dải Ngân hà
Chuôi sao tinh đẩu đă ba năm tṛn
Đá ṃn nhưng dạ chẳng ṃn
Tào khê nước chảy vẫn c̣n trơ trợ

Nhiều câu có giọng cảm khái với những ư tưởng đặc sắc:

Đêm qua chớp bể mưa nguồn

Hỏi người tri thức có buồn chăng ải
Tưởng rằng đá nát th́ thôi
Ai ngờ đá nát nung vôi lại nộng

Tay cầm bán nguyệt xênh xang
Một trăm thức cỏ lai hàng tay ta
Quên ḿnh giữa đám cỏ hoa
Buồn tênh những lúc trăng tà, sao thựa

GIÁ TRỊ NHÂN VĂN CỦA CA DAO, TỤC NGỮ

Phản ảnh tŕnh độ nhận thức và nếp suy nghĩ của người b́nh
dân, giá trị của tục ngữ, ca dao Việt Nam về phương diện tư
tưởng có phần

giới hạn Đôi khi ta gặp một vài ư nghĩ không hợp với đạo lư
hay có vẻ hẹp họi Đôi khi ta cũng thấy một số nhận xét thiếu
sâu sắc hoặc mâu thuẫn với nhạu Tuy nhiên xét chung, tục ngữ và
ca dao cho ta biết nhiều điều hữu ích về:

- Lịch sử đất nước

- H́nh thể đất nước

- Kinh nghiệm của dân tộc về một số vấn đề thường thức

- Một số đặc điểm đáng quư hoặc đáng lưu ư của dân Việt

- Một số lời khuyên thực tiễn và hữu ích của tiền nhân

Lịch sử đất nước:

Con ơi con ngủ cho muồi (cho lành)

Để mẹ gánh nước đổ ṿi (rửa bành) con voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà quản tượng cưỡi voi đánh cộng

Nực cười châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu nát, ai dè xe nghiêng

Đánh giặc th́ đánh giữa sông
Chớ đánh chỗ cạn vướng chông mà ch́m

Tiếc thay cây quế châu Thường (giữa rừng)
Để cho thằng mán, thằng mường nó leo

Tiếc thay hạt gạo trắng ngần
Đă vo nước đục lại vần than rơm

Đời vua Thái tổ, Thái tông
Con bế, con giắt, con bồng, con mang
Ḅ đen húc lẫn ḅ vàng
Húc quưnh húc quáng đâm quàng xuống sông

Đời vua Vĩnh tộ lên ngôi
Cơm trắng đầy nồi trẻ chẳng buồn ăn

Đục cùn th́ giữa lấy tông
Đục long, cán găy, c̣n mong nỗi ǵ!

Khôn ngoan qua cửa sông La
Dễ ai có cánh bay qua luỹ Thầy

Anh về B́nh định thăm cha
Phú yên thăm mẹ, Khánh hoà thăm em

Làm trai cho đáng nên trai
Phú xuân đă trải, Đồng nai cũng từng

Con mèo mày trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đàng xa
Mua mắm mua muối giỗ cha con mèo

Ngó lên ḥn tháp Cánh Tiên
Cảm thương quan Hậu thủ thiềng ba năm

Lạy trời cho cả gió nồm
Cho thuyền chúa Nguyễn dong buồm thẳng ra

Vạn niên là Vạn niên nào
Thành xây xương lính, hào đào máu dân

Giặc Sài g̣n đánh xuống
Binh ngoài Huế không vô
Anh biểu em đừng đợi đừng chờ
Để anh đi lấy đầu thằng mọi trắng tế cờ nghĩa quân

Giặc Tây đánh đến Cần giờ
Bậu đừng mong nhớ, đợi chờ uổng công

Chẻ tre bện sáo cho dày
Ngăn ngang sông Mỹ có ngày gặp em

Gáo vàng đi múc giếng Tây
Khôn ngoan cho lắm, tớ thầy người ta

Nghĩ ra nông nỗi thêm rầu
Ở giữa Đồng khánh, hai đầu Hàm nghi

Tướng Vơ không c̣n Nguyên Giáp nữa
"Bác Hồ" cũng chẳng "Chí Minh" đậu

H́nh thể và đặc điểm của đất nước:

Đồng đăng có phố Kỳ lừa

Có nàng Tô thị, có chùa Tam thanh
Ai lên xứ Lạng cùng anh
Bơ công bác mẹ sinh thành ra ẹm

Sông Gầm, sông Chảy, sông Lô
Sông Đà, sông Đáy chảy vô Hồng hà
Thái b́nh chi nhánh có ba
Sông Cầu, sông Lục cùng là sông Thương
Làm trai chí ở bốn phương
Kỳ cùng cũng tới, Bằng giang cũng tượng

Sông Lô một dải trong ngần
Thảnh thơi ta rũ bụi trần cũng nên
Sông Lô nước đục, bụi đen
Ai lên phố Ẻn cũng quên đường về

Đường lên Mường Lễ bao xa
Trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh

Thành Hà nội năm cửa nàng ơi
Sông Lục đầu sáu khúc, nước chảy xuôi một ḍng
Nước sông Thương bên đục bên trong
Núi đức Thánh Tản thắt cổ bồng mà có thánh sinh
Đền Ṣng thiêng nhất tỉnh Thanh
Ở trên tỉnh Lạng có thành tiên xậy

Rủ nhau xem cảnh Kiếm hồ
Xem cầu Thê húc, xem chùa Ngọc sơn
Đài Nghiên, tháp Bút chưa ṃn
Hỏi ai gây dựng nên non nước nạy

Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn vơ, canh gà Thọ xương
Mịt mù khói toả ngàn sương
Nhịp chày Yên thái, mặt gương Tây hộ

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ
Ai vô xứ Nghệ th́ vô!
Thương anh em cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam giang

Lênh đênh qua cửa Thần phù
Khéo tu th́ nổi, vụng tu th́ ch́m

Đi bộ th́ khiếp Hải vân
Đi thuỷ th́ sợ sóng thần hang Dơi

Đông ba, Gia hội hai cầu
Trông lên Diệu đế bốn lầu, hai chuông

Núi Ngự b́nh trước tṛn, sau méo
Sông An cựu nắng đục, mưa trong

Chiều chiều mây phủ Hải vân
Chim kêu ghềnh đá ngẫm thân em buồn
Tiếng ai than khóc nỉ non
Là vợ chú lính trèo ḥn Cù mộng

Ai về B́nh định mà coi
Con gái B́nh định múa roi đi quyền

Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia định, Đồng nai th́ về!

Tỉnh Cần thơ nam thanh nữ tú
Xứ Rạch giá vượn hú chim kêu

Bạc liêu đi dễ, khó về
Trai đi có vợ, gái về có cọn

Đồng Tháp Mười c̣ bay thẳng cánh
Nước Tháp Mười lấp lánh cá tôm

Đèn nào cao cho bằng đèn Châu đốc
Gió nào độc cho bằng gió G̣ công

Trông lên chín chín ngọn Hồng
Ngó về chín khúc Cửu long dạt dào
Non kia ai đắp mà cảo
Sông kia ai bới, ai đào mà sẩu

Kinh nghiệm của dân tộc về một số vấn đề thường thức:

Thời tiết:

Én bay thấp, mưa ngập bờ ao

Én bay cao, mưa rào lại tạnh

Chuồn chuồn bay thấp th́ mưa

Bay cao th́ nắng, bay vừa th́ râm

Chớp đông nhay nháy, gà gáy th́ mưa
Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay th́ băo

Cơn đằng đông vừa trông vừa chạy
Cơn đằng nam vừa làm vừa chơi
Cơn đằng tây mưa dây gió giật

Thâm đông, hồng tây, dựng may
Ai ơi ở lại ba ngày hăy đị

Canh nông:

Trời nắng tốt dưa, trời mưa tốt lúa

Được mùa cau, đau mùa lúa
Được mùa lúa, úa mùa cau

Lúa chiêm nép ở đầu bờ
Bỗng nghe tiếng sấm phất cờ mà lên

Mồng tám tháng tư không mưa
Mẹ con bán cả cày bừa mà ăn

Ứng dụng thực tiễn:

Trăm hay không bằng tay quen

Học thầy không thầy học bạn

Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

Phép vua thua lệ làng

Cờ bạc là bác thằng bần
Cửa nhà bán hết, tra chân vào cùm

Trai khôn t́m vợ chợ đông
Gái khôn t́m chồng giữa chốn ba quận

Đặc điểm, thổ sản địa phương:

Ăn Bắc, mặc Kinh

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Chẳng thanh chẳng lịch cũng người Trường an

Thứ nhất kinh kỳ, thứ nh́ Phố Hiến

Trai Cầu Vồng, Yên thế, gái Nội duệ, Cầu Lim

Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần
Nước mắm Vạn Vân, cá rô đầm Sẹt

Muốn ăn bánh ít lá gai
Lấy chồng B́nh định, sợ dài đường đi

Tệ đoan, bất công xă hội:

Cá lớn nuốt cá bé

Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ

Tiền vào quan như than vào ḷ

Muốn nói oan, làm quan mà nói

Con ơi ghi lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan

Tuần hà là cha kẻ cướp

Bố chồng như lông con phượng
Mẹ chồng như tượng mới tô
Nàng dâu là bồ đựng chựi

Tướng mạo:

Những người thắt đáy lưng ong

Vừa khéo chiều chồng lại khéo nuôi con
Những người béo trục béo tṛn
Ăn vụng như chớp, đánh con cả ngạy
Những người ti hí mắt lươn
Trai th́ trộm cướp, gái buôn chồng người

Tâm lư:

Yêu nên tốt, ghét nên xấu

Yêu ai yêu cả đường đi
Ghét ai ghét cả tông chi họ hàng

Mấy đời bánh đúc có xương
Mấy đời d́ ghẻ có thương con chồng

Khó khăn giữa chợ leo teo
Ông cô bà cậu chẳng điều hỏi sao
Giàu sang ở bên nước Lào
Hùm tha, rắn cắn, t́m vào cho mạu

Gái thương chồng đương đông buổi chợ
Trai thương vợ nắng quái chiều hôm

Một số đặc điểm đáng quư hoặc đáng lưu ư của dân tộc:

Tinh thần hi sinh và công lao khó nhọc của người đàn bà Việt Nam:

Hi sinh:

Có con phải khổ v́ con

Có chồng phải gánh giang sơn cho chồng

Có con phải khổ v́ con
Có chồng phải ngậm bồ ḥn đắng cay

Canh một dọn cửa dọn nhà
Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm
Canh tư bước sang canh năm
Tŕnh anh dạy học chớ nằm làm chị

Những ngày em ở cùng cha
Cái nón tiền rưỡi, quai ba mươi đồng
Đến khi em về cùng chồng
Cái nón sáu đồng mà buộc quai mo

Xưa kia nón thúng quai thao
Bây giờ nón rách, quai nào th́ quai
V́ chàng thiếp phải ṃ cua
Những như thân thiếp th́ mua mấy đồng
V́ chàng nên phải mua mâm
Những như thân thiếp bốc ngầm cho xong
V́ chàng thiếp phải long đong
Những như thân thiếp cũng xong một bề

Thương chồng nên phải gắng công
Nào ai xương sắt, da đồng chi đây!

Một ngày mấy bận trèo non
Lấy ǵ mà đẹp mà ḍn hỡi anh
Một ngày mấy bận trèo đèo
Lấy đâu má phấn lưng eo hỡi chàng

Đảm đang, nuôi chồng học:

... Nay anh học gần

Mai anh học xa
Tiền gạo th́ của mẹ cha
Cái nghiên, cái bút thật là của em

Em th́ canh cửi trong nhà
Nuôi anh đi học đặng khoa bảng vàng

Em là con gái Phụng thiên
Bán rau mua bút mua nghiên cho chồng
Nữa mai chồng chiếm bảng rồng
Bơ công bón tưới vun trồng cho rau

Mùa hè cho chí mùa đông
Mùa nào thức nấy cho chồng đi thi
Hết gạo thiếp lại gánh đi
Hỏi thăm chàng học ở th́ nơi nao

Chăm sóc gia đ́nh khi chồng đi làm ăn nơi xa:

Nhà anh chỉ có một gian

Nửa th́ làm bếp, nửa toan làm buồng
Anh cậy em coi sóc trăm đường
Để anh buôn bán trẩy trương thông hành
C̣n chút mẹ già nuôi lấy cho anh
Để anh buôn bán thông hành đường xạ
Em ơi, thuận với mẹ già
Đừng tiếng nặng nhẹ người ta chê cười
Dù no dù đói cho tươi
Khoan ăn bớt ngủ liệu bài lo toan
Đói no có thiếp có chàng
C̣n hơn chung đỉnh, giàu sang một ḿnh

Bác mẹ già phơ phơ đầu bạc
Con chàng c̣n trứng nước thơ ngây
Có hay chàng ở đâu đây
Thiếp xin mượn cánh chắp bay theo chạng

Chăm sóc gia đ́nh khi chồng đi lính:

Trời ơi, sinh giặc làm chỉ

Cho chồng tôi phải ra đi chiến trượng

- Thương nàng đă đến tháng sinh
Ăn ở một ḿnh, nương cậy vào ải
Rồi ra sinh gái sinh trai
Sớm khuya mưa nắng lấy ai bạn củng
- Sinh gái th́ em gả chồng
Sinh trai lấy vợ mặc ḷng thiếp lọ

Anh ơi, phải lính th́ đi
Cửa nhà đơn chiếc đă th́ có tôi

Anh ơi, giữ lấy việc công
Để em cày cấy mặc ḷng em đây

Khuyên anh đi lính cho ngoan
Cho dân được cậy, cho quan được nhờ
Bao giờ lên đội, lên cơ
Th́ em sẽ quyết đợi chờ cùng ạnh

Lính vua, lính chúa, lính làng
Nhà vua bắt lính cho chàng phải ra
Giá vua bắt lính đàn bà
Để em đi đỡ anh và bốn năm
Bởi vua bắt lính đàn ông
Tiền lưng gạo bị sắm trong nhà nạy

- Khen ai khéo tiện ngù cờ
Khéo xây bàn án, khéo thờ tổ tiện
- Tổ tiên để lại em thờ
Anh ra ngoài ải cầm cờ theo vua
Chàng ơi, trẩy sớm hay trửa
Để em gánh gạo tiễn đưa hành tŕnh

Con c̣ lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Nàng về nuôi cái cùng con
Để anh đi trẩy nước non Cao bặng

Anh đi, em ở lại nhà
Hai vai gánh vác mẹ già con thơ
Lầm than bao quản muối dưa
Anh đi, anh liệu chen đua với đợi

Đặc tính coi trọng nội dung hơn h́nh thức:

Dân Việt Nam, nhất là ở phía Nam của đất nước, với ảnh
hưởng văn hoá Đông nam Á đậm hơn ảnh hưởng Trung hoa, có khuynh
hướng thiên về nội dung hơn h́nh thức khi ứng dụng các nguyên
tắc luân lỵ Thái độ của người con trước hôn nhân khi quan
niệm của họ về người phối ngẫu không phù hợp với quan niệm
của cha mẹ là một trường hợp điển hịnh

Nói chung, người thanh niên, thiếu nữ Việt Nam rất hiếu thảo
với cha mẹ:

Má ơi, đừng đánh con hoài

Để con bắt cá, nấu xoài má ặn

Bao giờ cho lư hoá long
Đền ơn cha mẹ ẵm bồng ngày xưa

Ngó lên nuộc lạt trên nhà
Đếm bao nhiêu nuộc lạt, thương cha mẹ già bấy nhiêu

Gió đưa cây cửu lư hương
Xa cha xa mẹ, thất thường bữa ăn
Sầu riêng cơm chẳng muốn ăn
Đă bưng lấy bát lại dằn xuống mâm

Ba tiền một khúc cá buôi
Cũng mua cho được mà nuôi mẹ già
Chẳng lo thân bậu với qua
Lo chút mẹ già đầu bạc tuổi cao
Đêm đêm mỗi thắp đèn trời
Cầu cho cha mẹ sống đời với con

Ngó lên ngó xuống th́ khuây
Ngó về quê mẹ tràn đầy nhớ thương

Chiều chiều ra đứng ngơ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín ch́u

Chiều chiều ra đứng bờ sông
Muốn về quê mẹ mà không có đọ

Khi chữ hiếu mâu thuẫn với chữ t́nh:

Nơi thương, cha mẹ biểu không

Nơi chẳng bằng ḷng, cha mẹ biểu ựng
Chiều chiều ra đứng bờ mương
Bên t́nh, bên hiếu, biết thương bên nảo

người thanh niên, thiếu nữ Việt Nam cũng dám có ư kiến khác cha
mẹ Tuy hiểu rằng cha mẹ muốn gả con vào chỗ giàu có là để con
có cuộc sống vật chất đầy đủ, họ thẳng thắn tŕnh bày
nhận thức khác biệt của họ:
Chẳng tham nhà ngói bức bàn

Trái duyên, coi bẵng một gian chuồng gà
Ba gian nhà rạ loà xoà
Phải duyên, coi tựa chín toà nhà lim

Số em giàu, lấy khó cũng giàu
Số em nghèo, chín đụn mười trâu cũng nghèo
Phải duyên, phải kiếp th́ theo
Thân em đâu quản khó nghèo làm chi
Chữ nhân duyên thiên tải nhất th́
Giàu ăn, khó nhịn, lo ǵ mà lỏ

Thương nhau giàu khó chớ lo
Một mai thiên địa lại cho xoay vận

Thuận vợ thuận chồng, tát bể đông cũng cạn

Chồng em áo rách em thương
Chồng người áo gấm xông hương mặc ngượi

Họ mạnh dạn nói lên một sự thật: v́ muốn gả con vào chỗ giàu
có, cha mẹ nhiều khi có những lựa chọn không thích hợp:
Đường đi những lách cùng lau

Cha mẹ tham giàu, ép uổng duyên con

Cha mẹ đ̣i ăn cá thu
Gả con xuống biển mù mù tăm tặm

Mẹ em tham thúng xôi dền
Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh hưng
Em đă bảo mẹ rằng đừng
Mẹ hấm mẹ hứ, mẹ bưng ngay vạo
Bây giờ chồng thấp, vợ cao
Như đôi đũa lệch, so sao cho đểu

Chồng lên tám, vợ mười ba
Cả ngày nu nống nu na đỡ buồn
Mười tám vợ đă lớn khôn
Nu na nu nống, chồng c̣n mười ba
Mẹ ơi, con phải gỡ ra
Chồng con nu nống nu na suốt ngày!

Vô duyên vô phúc, múc phải anh chồng già
Ra đường người hỏi rằng cha hay chổng
Nói ra đau đớn trong ḷng
Ấy cái nợ truyền kiếp chứ có phải chồng em đâu!

Cổ tay em vừa trắng vừa tṛn
Răng đen nhưng nhức, chồng con kém người
Đáng thương thay nhạn ở với ruồi,
Tiên ở với cú, người cười với ma,
Con công ăn lẫn với gà
Rồng kia rắn nọ, coi đà sao nển

Trong buồn lo, sợ hăi, người thanh niên, thiếu nữ Việt Nam dám
cưỡng ư cha mẹ để bảo vệ mối t́nh của mịnh Họ tha thiết xin
cha mẹ nh́n nhận mối t́nh của họ Trong trường hợp cha mẹ vẫn
không chấp nhận, họ sẵn sàng chịu đựng mọi h́nh phạt nhưng
cương quyết không rời bỏ nhau:
Ḿnh ơi, tôi nhớ thương ḿnh

Mẹ cha chửi mắng, chữ t́nh nặng thệm

Em thương anh, phụ mẫu đánh mấy em cũng không lo
Nặng đ̣n em ráng chịu, em nằm co em khóc thậm

Dù cha có đánh mơ đ́nh
Mẹ ngăn ngơ chợ, đôi đứa ḿnh đừng xạ

Mặc dù cha đánh, mẹ treo,
Đứt dây té xuống cũng theo chung tịnh

Dao phay chín ngọn, em bắt trọn có một ḿnh
Chết em chịu chết, biểu buông ḿnh em không buông

Dao phay kề cổ, máu đổ không màng
Chết tôi tôi chịu, buông nàng tôi không buộng

... Thuỷ chung em giữ trọn mấy lời
Chết em chịu chết, ĺa đôi em không lịa
Họ có thể không vâng ư cha mẹ tuy vẫn tôn trọng và kính yêu cha
mẹ:
Mẹ cha tuy chẳng bằng ḷng

Đôi ta cố gắng chữ đồng trăm năm

Hai đứa ḿnh đành, phụ mẫu cũng đành
Đấng làm cha mẹ đâu nỡ dứt duyên lành của con!

Dầu cho phụ mẫu rày la
Đôi ta thủng thẳng dắt ra lạy chào

Bấy lâu nay em c̣n nghi c̣n ngại
Bữa nay em kêu đại bằng ḿnh
Phụ mẫu hay đặng, không lẽ đánh ḿnh, giết ẻm

Chẳng thà dắt thẳng nhau vô
Phụ mẫu có giết, thác một mồ cũng ưng!

Em đành, phụ mẫu không đành
Hai đứa ḿnh trải chiếu ngoài thành lạy vộ

Một số lời khuyên thực tiễn và hữu ích của tiền nhân:

Về cách xử thế:

Ăn có nhai, nói có nghĩ

Ăn trông nồi, ngồi trông hướng

Ăn miếng chả, trả miếng nem

Một sự nhịn, chín sự lành

Gần mực th́ đen, gần đèn th́ sạng

Gửi lời th́ nói, gửi gói th́ mở

Cười người chớ vội cười lâu
Cười người hôm trước, hôm sau người cượi

Lời nói chẳng mất tiền mua
Liệu lời mà nói cho vừa ḷng nhau

Giàu ba mươi tuổi chớ mừng
Khó ba mươi tuổi em đừng vội lo

Có ư nghĩa luân lư:

Ăn cây nào, rào cây ấy

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

Ăn mặn nói ngay c̣n hơn ăn chay nói dối

Chị ngă, em nâng

Đói cho sạch, rách cho thơm

Thà ăn cáy, ngáy o o
C̣n hơn ăn ḅ mà lo ngay ngáy

Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
Xấu người đẹp nết c̣n hơn đẹp người

Ai mà phụ nghĩa, quên công
Th́ đeo muôn cánh hoa hồng chẳng thợm

Trăm năm bia đá th́ ṃn
Ngh́n năm bia miệng vẫn c̣n trơ trơ
Những người gian ác thuở xưa
Tiếng nhơ gột rửa bao giở cho phại

Tranh quyền cướp nước ǵ đây
Coi nhau như bát nước đầy là hợn

Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cụng

TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM:

Hầu hết các dân tộc thiểu số trên đất nước Việt Nam đều
có những thần thoại về nguồn gốc vũ trụ và nguồn gốc loài
ngượi Chẳng hạn truyện "Đẻ đất, đẻ nước" của người
Mường, các truyện về cơn đại hồng thuỷ vạu quả bầu khổng
lồ, nơi phát xuất những con người đầu tiên trên đất Việt
cổ và các vùng lân cận, trong hầu hết các sưu tập cổ tích
của người Thái, Lolo, Hmong, Bana, Raglai, Sedang, Vân kiệu

Những chuyện Lạc Long quân trừ Ngư tinh, Hồ tinh, Mộc tinh; Thánh
Tản viên (Sơn tinh) ngăn nước lụt của người Việt có thể
xếp vào loại thần thoại về sự chinh phục thiên nhiên và kỳ tích
của anh hụng

Những truyện "Cóc kiện trời", "Tại sao hổ có vằn", "Sự tích
loài khỉ", "Sự tích con tu hú", "Sự tích con dă tràng"... trong kho
tàng truyện cổ tích Việt Nam có thể xếp vào loại cổ tích về
loài vật

Những truyện về Thánh Gióng, Chử Đồng tử, Bánh dầy bánh
chưng, Quả dưa đỏ, Sơn tinh Thuỷ tinh, Thần Kim quy và nỏ thần, Tô
thị vọng phu, Thiếu phụ Nam xượng có thể xếp vào loại cổ
tích lịch sự

Những truyện Trầu cau, Tấm Cám, Ba vị đầu rau, Túi ba gang (hai
anh em và cây khế), Cây tre trăm đốt, Lưu B́nh Dương Lễ, Cái
cân thuỷ ngân, Giết chó dạy chộng có thể xếp vào loại
truyện luân lỵ

Những chuyện về sự dối trá của thằng Cuội, Trạng Quỳnh lỡm
chúa Trịnh, Trạng Lợn gặp may, cũng như những giai thoại về Ba
Giai, Tú Xuật có thể xếp vào loại truyện hài hược

Thêm vào đó, dân ta c̣n có những truyện thần kỳ, thoát tục như
Tú Uyên gặp tiên, Từ Thức lên tiện (truyện Chử Đồng tử
đă nhắc đến ở trên cũng có thể xếp vào loại này), và những
truyện thần quái như Người lấy cóc, Sọ Dừa, Hồn Trương Ba, da
hàng thịt, Ma xọ Chúng ta cũng có một số truyện ái t́nh thuần
tuư như Trương Chi Mỵ nượng

Một số truyện cổ tích của dân tộc Việt (như các truyện Trăm
trứng trăm trai, Tấm Cám, Thạch Sanh, Sọ Dựa) cũng là truyện
cổ tích của nhiều sắc dân thiểu số trên đất nước Việt Nạm
Một số truyện Việt Nam cũng có thể t́m thấy trong kho tàng cổ
tích của một vài dân tộc khác ở Đông Nam Ạ

Một đặc điểm đáng lưu ư của các truyện cổ tích là không có
văn bản nhất định Mỗi người kể lại đều có thể thêm bớt,
thay đổi đôi chút cho hợp với khung cảnh và tŕnh độ, thành
phần thính giạ

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Kỹ Thuật Truy Tầm

Hoàng Vân

Sưu tầm Nhạc Dân Ca

Julia Nguyễn
Xin vui ḷng liên lạc với  Trang Chủ về tất cả những ǵ liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 10/28/08