Home T́m Ca Dao Diễn Đàn T́m Dân Ca Phổ Nhạc T́m Câu Đố T́m Chợ Quê Góp Ư Nghe Nhạc English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
 
Ẩm Thực
Cảm Nghĩ
Chợ Quê
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Liên Mạng Thành Viên
Trang Chủ
Hồng Vũ Lan Nhi 1 & 2
Phong Thủy HKH
 

 
 

 

 
 

Bảo tồn di sản: Cần “danh” hay cần “thực”?

 
 
 
 

Có lẽ Hoàng thành Thăng Long sẽ được UNECO công nhận là Di sản Văn hoá thế giới đúng vào dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội khi hồ sơ đề nghị được đệ tŕnh lên UNESCO. Trước đó không lâu, hồ sơ đề nghị công nhận quan họ là di sản văn hoá phi vật thể thế giới cũng đă hoàn thành và gửi tới UNESCO. Nhưng việc những di sản văn hoá của Việt Nam được nhận tấm bằng công nhận của UNESCO có quan trọng bằng việc bảo tồn nó thế nào?

Cồng chiêng luôn gắn liền với đời sống tâm linh của các dân tộc Tây Nguyên

Không phải bây giờ, các nhà nghiên cứu mới băn khoăn chuyện “danh” và “thực” trong công cuộc bảo tồn di sản. Năm 1993, lần đầu tiên cả đất nước Việt Nam vinh dự có tên trong danh sách những Di sản văn hoá Thế giới với di sản cố đô Huế. Hơn ai hết, lănh đạo tỉnh Thừa Thiên – Huế là những người hiểu rơ nhất về giá trị của cố đô Huế, với hệ thống cung điện, đền đài, lăng tẩm... c̣n lại khá nguyên vẹn, như một pho sử sống về triều đại quân chủ cuối cùng tại Việt Nam. Nhưng đùng một cái, đầu năm 2005, người dân cả nước mới biết bên bờ sông Hương, trên đồi Vọng Cảnh, cũng chính những người nắm quyền quản lư cao nhất ở Thừa Thiên – Huế kư quyết định xây một khách sạn lớn. Những ai từng đến Huế đều biết, đồi Vọng Cảnh là một địa điểm nổi tiếng thơ mộng, từ đây có thể ngắm nh́n toàn cảnh thượng nguồn sông Hương, thành phố Huế. Vọng Cảnh có một giá trị khá đặc biệt đối với cảnh quan sông Hương và quần thể di tích các lăng tẩm xung quanh.

Nếu ngày ấy, không có báo chí ra sức “đấu” về khách sạn trên đồi Vọng Cảnh th́ có lẽ giờ, một công trường xây dựng khách sạn với bê tông cốt thép những máy khoan máy xúc ầm ầm hoạt động sẽ phá tan cảnh quan của khu vực được xem là thơ mộng nhất của cố đô Huế này.

Được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá thế giới, điều ấy tất nhiên, là vô cùng quan trọng. Nó chứng tỏ được nhiều điều, khi đó, di sản của người Việt, không chỉ c̣n giới hạn trong đất nước h́nh chữ S này nữa, mà nó đă là di sản của nhân loại, di sản mang tính toàn cầu. Nhưng dẫu sao, tấm bằng “Di sản” của UNESCO vẫn chỉ là cái danh. Cũng như chức danh “Giáo sư”, chưa hẳn đă nói lên tŕnh độ của người được mang cái “danh” ấy. Cái “danh” là di sản của nhân loại, liệu có quan trọng bằng cái “thực” – hay việc di sản ấy được bảo tồn như thế nào.

Sau vụ “đ́nh đám” về đồi Vọng Cảnh, ít ai biết rằng, một di sản văn hoá khác của Việt Nam, được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại đang bị phá hoại một cách không thương tiếc. Hơn nữa, lại bị phá hoại một cách “có tổ chức” hẳn hoi. Nạn nhân lần này là cồng chiêng Tây Nguyên.

Có một điều rất đáng lưu ư, là UNESCO công nhận “không gian văn hoá cồng chiêng”, chứ không công nhận cồng chiêng ở khía cạnh một nhạc khí, hay một nghệ thuật biểu diễn. Hiểu đơn giản, UNESCO công nhận cồng chiêng trong không gian sống của nó, trong một tổng thể những sinh hoạt văn hoá – xă hội – tín ngưỡng – tâm linh của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên mà những chiếc cồng chiêng chỉ là một bộ phận cấu thành. Muốn hiểu rơ thêm điều này, nhất thiết phải hiểu trong đời sống của đồng bào Tây Nguyên, cồng chiêng có vai tṛ như thế nào?

Theo quan niệm của các già làng M’nông ở tỉnh Đắk Nông th́: “Cồng chiêng có thể giúp cho con người thông tin trực tiếp với thần linh, với các Yàng (trời), là chiếc cầu nối giữa các thành viên trong cộng đồng. Cồng chiêng không được sử dụng một cách bừa băi, chỉ được sử dụng trong các nghi lễ, lễ hội của các gia đ́nh và buôn làng ”. Cồng chiêng luôn gắn với đời sống tâm linh của các dân tộc Tây Nguyên, và như vậy, “tính thiêng” được h́nh thành và phát triển thành một không gian văn hoá cồng chiêng - không gian văn hoá có các yếu tố tâm linh chi phối. Nh́n lại lịch sử âm nhạc, cồng chiêng là một phương tiện để biểu đạt đời sống tinh thần của rất nhiều dân tộc trên thế giới. Nhưng không phải ở bất kỳ tộc người nào, “tính thiêng” của cồng chiêng cũng đều chi phối không gian văn hoá của họ. Nói cách khác, với các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, một khi cồng chiêng thoát khỏi không gian văn hoá có yếu tố tâm linh chi phối th́ nó không c̣n là nó nữa.

Nhưng giờ đến du lịch Tây Nguyên, cứ có tiền, là du khách được xem đánh cồng chiêng – phương tiện giao tiếp với thần linh, với trời khi xưa. Người ta tổ chức hẳn những đội cồng chiêng chuyên đi “đánh thuê” phục vụ khách du lịch. Nhà văn Nguyên Ngọc, người từng nhiều năm gắn bó với đồng bào Tây Nguyên cực lực phản đối chuyện “festival hoá” cồng chiêng, hay nói cách khác, là “sân khấu hoá”, tầm thường hoá cồng chiêng. Cũng theo ông, rất nhiều già làng Tây Nguyên phản đối việc đem “phương tiện để giao tiếp với Yàng” của đồng bào Tây Nguyên đem ra đánh bính boong trên sân khấu. Chắc rằng, chủ nhân của không gian văn hoá cồng chiêng, sẽ c̣n thất vọng hơn, khi biết rằng, sau “thành công của Festival văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên”, các nhà chức trách c̣n dự định tổ chức một Festival cồng chiêng quốc tế tại Tây Nguyên!

Trên đây, là cách hành xử với những di sản văn hoá của Việt Nam đă được UNESCO công nhận, c̣n với những di sản đang trong lộ tŕnh trở thành di sản văn hoá thế giới th́ sao? Chúng tôi gặp nghệ nhân Nguyễn Văn Mùi – Chủ nhiệm Câu lạc bộ Ca trù Thái Hà khi Việt Nam đang lập hồ sơ đề nghị công nhận ca trù là di sản. Câu lạc bộ Ca trù Thái Hà, là câu lạc bộ do ông Nguyễn Văn Mùi lập lên. Các thành viên đều là con cháu ông Mùi. Quan trọng hơn, họ đều là hậu duệ của ḍng họ Nguyễn, một ḍng họ khi xưa từng có nhiều ca nương, kép đàn phục vụ cung đ́nh nhà Nguyễn. Khi được hỏi về suy nghĩ khi ca trù sắp bước lên một “nấc thang mới”, ông Mùi cho biết: “Được công nhận th́ tốt quá c̣n ǵ. Nhưng giá như được quan tâm để ca trù thoát cảnh “xuân thu nhị kỳ”, cứ có dịp nào đó mới gọi chúng tôi hát vài buổi, bồi dưỡng ít tiền th́ hay biết mấy”. Đó chẳng qua cũng là một cách nói khác về chuyện “danh” và “thực” trong công tác bảo tồn của người nghệ nhân già – người từng trải nhiều cay đắng với ca trù.

Người ta vẫn bàn về chuyện “cứu” ca trù, nhưng bàn nhiều mà làm ít. Gia đ́nh nghệ nhân Nguyễn Văn Mùi vẫn chưa nguôi ngoai khi nhớ lại lớp dạy hát ca trù mà gia đ́nh ông tham gia cách đây vài năm. Đáng buồn là lớp dạy đó, do Quỹ Ford – quỹ của hăng xe ô tô lớn thứ ba thế giới tổ chức – tài trợ chứ không phải do ngân sách chi ra của ngành văn hoá!

Những ngày này, dư luận nói nhiều đến Hoàng thành Thăng Long đang trên đường trở thành di sản văn hoá thế giới, khi bộ hồ sơ công phu về Hoàng thành Thăng Long đă được hoàn thành và được đệ tŕnh lên UNESCO. Tuy chủ yếu là phế tích, những giá trị mang tính toàn cầu của Hoàng thành Thăng Long là không thể phủ nhận. Đó là sự kết hợp hài hoà các phong cách kiến trúc châu Á, kỹ thuật xây dựng, quy hoạch đô thị, nghệ thuật tạo h́nh,... mang giá trị lịch sử về một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của cả nước trong gần 1.000 năm. Một điều đặc biệt nữa, trên một phạm vi khai quật không lớn tại 18 Hoàng Diệu, nhưng chúng ta thấy nhiều tầng văn hoá nối tiếp nhau từ thời An Nam đô hộ phủ - Đại La thế kỷ VII-IX; rồi thời Lư, Trần, Lê sơ đến Mạc, Lê trung hưng thế kỷ XI-XVIII đến thời Nguyễn thế kỷ XIX, mang bề dày lịch sử - văn hoá từ thời Thăng Long và gần 1.000 năm thời Thăng Long - Hà Nội. Đây là điều cực hiếm ở các kinh đô trên thế giới. Với những lư do này, những nhà nghiên cứu cũng như nhân dân thủ đô rất tự tin về khả năng Hoàng thành Thăng Long trở thành Di sản văn hoá thế giới.

Nếu Hoàng thành Thăng Long rồi tiếp đó, quan họ, ca trù, rối nước... được công nhận là di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của thế giới th́ Việt Nam đang dần trở thành một “cường quốc” về di sản văn hoá thế giới. Nhưng trước khi tự hào, với cách bảo tồn kiểu như xây đồi Vọng Cảnh hay sân khấu hoá cồng chiêng, chúng ta có là người thừa kế xứng đáng những di sản mà cha ông để lại?

Kinh Bắc

 

 

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Kỹ Thuật Truy Tầm

Hoàng Vân

Sưu tầm Nhạc Dân Ca

Julia Nguyễn
Xin vui ḷng liên lạc với  Trang Chủ về tất cả những ǵ liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 04/20/14