Home T́m Ca Dao Diễn Đàn T́m Dân Ca Phổ Nhạc T́m Câu Đố T́m Chợ Quê Góp Ư Nghe Nhạc English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
 
Ẩm Thực
Cảm Nghĩ
Chợ Quê
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Liên Mạng Thành Viên
Trang Chủ
Hồng Vũ Lan Nhi 1 & 2
Phong Thủy HKH
 

 
Giới thiệu vài nét về cuốn sách „ Ca Dao- Con Đường Văn Hóa Việt „

Tác giả: Nguyễn Văn Nhiệm
     
 
Sách dày 557 trang gồm phần dẫn nhập và 14 chương.
Phần dẫn nhập gồm hai tiểu đề mục: Minh triết và quan điểm.

Một tài liệu dày công nghiên cứu. E-Cadao trang trọng giới thiệu cùng độc giả (xem chi tiết tại:)     

 
Văn hóa nông nghiệp qua ca dao, tục ngữ
 

Thu hoạch

Nền văn hóa nông nghiệp, sản xuất lúa nước truyền thống của dân tộc ta đă để lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống văn hóa, sinh hoạt, lao động. Trải qua bao thế hệ cha ông ta đă tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất và dự báo những hiện tượng tự nhiên như nắng, mưa, gió rét, băo lụt có ảnh hưởng đến mùa màng, thời vụ. Những kinh nghiệm máu xương của bao đời được tích tụ trong những câu tục ngữ, ca dao về trồng lúa, trồng cây, chăn nuôi… Đây chính là bài học quư giá mà người nông dân Việt Nam xưa kia truyền lại cho các thế hệ cháu con.

Khi chưa có khoa học khí tượng, cha ông ta đă biết dựa vào quá tŕnh quan sát thời tiết, sự vật và rút ra được những quy luật ngắn gọn, cụ thể về những biến động mưa, nắng:

“Mây xanh th́ nắng, mây trắng th́ mưa”

“Mây kéo xuống biển th́ nắng chang chang,
Mây kéo lên ngàn th́ mưa như trút”

“Mống đông vồng tây, chẳng mưa dây cũng băo giật”

“Mau sao th́ nắng, vắng sao th́ mưa”

“Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay th́ băo”

“Én bay thấp mưa ngập cầu ao,
Én bay cao mưa rào lại tạnh”

“Chuồn chuồn bay thấp th́ mưa,
Bay cao th́ nắng, bay vừa th́ râm”

“Ếch kêu uôm uôm, ao chuôm đầy nước”…

Nếu như người dân đồng bằng nh́n chim én bay, chuồn chuồn lượn để dự đoán thời tiết th́ người dân trung du lại dựa vào chú ong để đoán định:

“Ong về mần nhiều, liệu chiều kiếm củi”

“Ong vàng làm thấp, băo sấp băo ngửa”

Về khí hậu nóng, lạnh trong các tháng cũng được đánh dấu mốc trong ca dao, tục ngữ:

“Gió bấc hiu hiu, sếu kêu th́ rét”

“Tháng giêng rét đài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng Bân”

“Tháng tám nắng rám trái bưởi”

“Đầu năm sương muối, cuối năm gió nồm”.

Các nét đặc biệt của các tháng trong năm được truyền qua bao đời

“Đêm tháng năm chưa nằm đă sáng”

“Ngày tháng mười chưa cười đă tối”

“Buồn về một nỗi tháng giêng,
Con chim cái cú nằm nghiêng thở dài.
Buồn về một nỗi tháng hai,
Đêm ngắn ngày dài, thua thiệt người ta.
Buồn về một nỗi tháng ba,
Mưa dầm, nắng lửa, người ta lừ đừ.
Buồn về một nỗi tháng tư,
Con mắt lừ đừ, cơm chẳng muốn ăn.
Buồn về một nỗi tháng năm,
Chửa đặt ḿnh nằm, gà gáy chim kêu”

Cấy lúa

Sự luân chuyển của thời gian cũng được miêu tả chính xác, sinh động:

“Qua giêng hết năm, qua rằm hết tháng”

“Nắng chóng trưa, mưa chóng tối”

“Mồng một lưỡi trai, mồng hai lá lúa.
Mồng ba câu liêm, mồng bốn lưỡi liềm
Mồng năm liễm giật, mùng sáu thật trăng…”

“Mười rằm trăng náu, mười sáu trăng treo”
“Gió nam đưa xuân sang hè”

Để gieo cấy thành công, đúng thời vụ và bội thu người dân phảI quan sát tỉ mỉ các hiện tượng tự nhiên trong một quá tŕnh nhất định, ghi nhớ các kỹ thuật canh tác để rút thành cẩm nang kinh nghiệm sản xuất cho bao thế hệ.

Muốn gieo trồng, cày bừa không phải cứ tùy tiện thích trồng lúc nào là trồng. Mà phải dựa vào các điều kiện thuân lợi của tự nhiên:

“Mồng chín tháng chín có mưa,
Th́ con sắm sửa cày bừa làm ăn.
Mồng chín tháng chín không mưa,
Th́ con bán cả cày bừa đi buôn”

“Lúa chiêm lấp ló đầu bờ,
Hễ nghe tiếng sấm, phất cờ mà lên”

“Phân tro không bằng no nước”

“Tỏ trăng mười bốn được tằm
Tỏ trăng hôm rằm th́ được lúa chiêm”

“Thiếu tháng hai mất cà,
Thiếu tháng ba mất đỗ,
Thiếu tháng tám mất hoa ngư,
Thiếu tháng tư mất hoa cốc”

Dựa vào tự nhiên, tuân thủ theo nguyên tắc “mùa nào thức nấy” đă ăn sâu trong suy nghĩ, kinh nghiệm lao động:

Chùa Hương

“Anh ơi! Cố chí canh nông,
Chín phần ta cũng dự trong tám phần.
Hay ǵ để ruộng mà ngăn,
Làm ruộng cấy lúa, chăn tằm lấy tơ.
Tằm có lứa, ruộng có mùa.
Chăm làm trời cũng đền bù có khi…”

“Tháng giêng là tháng ăn chơi,
Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà
Tháng ba th́ đậu đă già
Ta đi ta hái về nhà phơi khô
Tháng tư đi tậu trâu ḅ
Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm…”

“Đom đóm bay ra, trồng cà tra đỗ,
Tua rua, bằng mặt, cất bát cơm chăm”

“Đất thiếu trồng dừa, đất thừa trồng cau”
”Thưa ao tốt cá”

“Nhai kĩ no lâu, cày sâu tốt lúa”

“Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa”
“Năm trước được cau, năm sau được lúa”

“Tháng giêng trồng trúc, tháng lục trồng tiêu”

“Mạ úa cấy lúa chóng xanh,
Gái ḍng chóng đẻ sao anh hững hờ?”

“Nhờ trời mưa gió thuận hoà.
Nào cầy nào cấy, trẻ già đua nhau.
Chim, gà, cá, lợn, cành cau,
Mùa nào thức nấy giữ màu nhà quê”

“Làm ruộng ăn cơm nằm,
Chăn tằm ăn cơm đứng”

“Hễ mà hoa quả được mùa,
Chắc là nước bể, nước mưa đầy trời.
Ai ơi nên nhớ lấy lời.
Trông cơ trời đất, liệu thời làm ăn”

Chăn trâu

Các giống vật nuôi gắn liền với đời sống nông nghiệp cũng được người dân Việt lựa chọn, chăm sóc kĩ càng để chúng đem lại lợi ích cao nhất, thiết thực nhất, đặc biệt là h́nh ảnh con trâu, biểu tượng gắn liền với nhà nông được nhắc đến một cách rất quí trọng:

“Trâu ơi ta bảo trâu này,
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.
Cấy cày giữ nghiệp nông gia.
Ta đây trâu đấy, ai mà quản công!
Bao giờ cây lúa c̣n bông, th́ c̣n ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”.
“Con trâu là đầu cơ nghiệp”

“Trâu gầy cũng tày ḅ giống”

“Trâu năm sáu tuổi c̣n nhanh,
Ḅ năm sáu tuổi đă tranh về già,
Đồng chiêm xin chớ nuôi ḅ,
Mùa đông tháng giá, ḅ ḍ làm sao!”

“Nuôi gà phải chọn giống gà,
Gà ri bé giống nhưng mà đẻ mau
Nhất to là giống gà nâu,
Lông dày thịt béo về sau đẻ nhiều”

“Chó khôn tứ túc huyền đề.
Tai hơi cúp, đuôi th́ hơi cong.
Giống nào mơm nhọn đít vồng,
Ăn càn cắn bậy ấy không ra ǵ”

“Giàu nuôi lợn nái, lụi bại nuôi bồ câu”.

“Lợn đói một năm không bằng tằm đói một bữa”.

“Làm ruộng có năm, nuôi tằm có lứa”

“Dâu non ngon miệng tằm”…

Vất vả một nắng hai sương

Với những câu ca dao, tục ngữ có vần có điệu, duyên dáng, sinh động, dễ nhớ…cha ông ta đă gửi gắm t́nh cảm gắn bó, ḥa ḿnh với thiên nhiên, đồng thời ấp ủ khát vọng chinh phục, cải tạo thiên nhiên, đó là những cách nghĩ, nếp sinh hoạt, lao động sản xuất của người dân nông nghiệp. Người Việt xưa luôn có ư thức về việc đúc rút, ǵn giữ, lưu truyền những kinh nghiệm quí báu cho các thế hệ nối tiếp.

Ngày nay tuy khoa học kỹ thuật đă tiến bộ vượt bậc, con người đă dự báo chính xác các hiện tượng tự nhiên một cách nhanh chóng, chính xác và các biện pháp khắc phục trở ngại do tự nhiên mang lại, bay cao bay xa chinh phục những chân trời mới. Việc sản xuất nông nghiệp được áp dụng khoa học kỹ thuật cho thu hoạch tối ưu, có thể sản xuất nhiều mùa trong năm… Song thiết nghĩ thành tựu ấy vẫn được dựng xây trên cái nền cơ bản xa xưa: kinh nghiệm dân gian

VIỆT KHUÊ (t.h)

 

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Kỹ Thuật Truy Tầm

Hoàng Vân

Sưu tầm Nhạc Dân Ca

Julia Nguyễn
Xin vui ḷng liên lạc với  Trang Chủ về tất cả những ǵ liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 08/11/13